- 5 -
QHKH Quan hệ khách hàng
QLN Quản lý nợ
QLRR Quản lý rủi ro
QLRRTD Quản lý rủi ro tín dụng
QSDĐ Quyền sử dụng đất
RRTD Rủi ro tín dụng
SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ
TCKT Tổ chức kinh tế
TCTD Tổ chức tín dụng
Tcty Tổng công ty
TSBĐ Tài sản bảo đảm
TSTC Tài sản thế chấp
TTĐT Trung tâm đào tạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
VCB Bank For Foreign Trade Of Vietnam
WTO World Trade Organization
- 6 -
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Vài nét về tình hình tài chính qua các năm 23
Bảng 2.2 Danh mục dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế Phụ lục 2
Bảng 2.3 Danh mục dư nợ tín dụng theo loại hình doanh nghiệp 28
Bảng 2.4 Dư nợ tín dụng theo chất lượng Phụ lục 2
Bảng 2.5 Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn Phụ lục 2
Bảng 2.6 Dư nợ tín dụng theo loại tiền Phụ lục 2
Bảng 2.7 Bảng liệt kê rủi ro của doanh nghiệp 43
Bảng 2.8 Bảng xếp loại khách hàng doanh nghiệp theo điểm số 45
Bảng 2.9 Chính sách tín dụng theo mức độ rủi ro 46
Bảng 2.10 Ma trận rủi ro 48
Bảng 3.1 Bảng chỉ tiêu chấm điểm tín dụng tiêu dùng 62
Bảng 3.2 Quyết đònh tín dụng dựa trên điểm số 63
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Quan hệ giữa Người cho vay và Người đi vay 3
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý rủi ro tín dụng tại NHNTVN 40
Hình 3.1 Cơ cấu danh mục đầu tư tín dụng đến năm 2010 65
- 7 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong cơ chế thò trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn
nhiều rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín
dụng… Trong tất cả các loại rủi ro kể trên thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro chiếm
tỷ trọng lớn và phức tạp nhất. Rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ gây nên những
tổn thất về tài chính mà còn gây nên những thiệt hại to lớn về uy tín ngân hàng,
làm giảm sút niềm tin của công chúng đối với cả hệ thống ngân hàng. Do tính
chất lây lan của nó, rủi ro tín dụng có thể là đầu mối của những cuộc khủng
hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế- xã hội.
Thực tế hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam thời
gian qua cho thấy: Hiệu quả của hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín
dụng chưa tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi còn ở mức cao so với
khu vực và thế giới, xu hướng phát triển không bền vững.
Theo lộ trình hội nhập quốc tế, về cơ bản đến năm 2010 Việt Nam sẽ thực
hiện mở cửa hoàn toàn thò trường dòch vụ ngân hàng, các Ngân hàng trong nước
sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt trong một môi trường kinh
doanh toàn cầu biến động khó lường. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả quản trò rủi
ro, đặc biệt là quản trò rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
đang là vấn đề bức xúc cả trên mặt lý luận và thực tiễn.
Là một người đang làm công tác tín dụng trong hệ thống Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam, với mong muốn đóng góp cho Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam ngày càng phát triển và lớn mạnh, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao
hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” làm
luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế ngành Quản trò kinh doanh.
- 8 -
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
- Hệ thống hóa lý thuyết về quản trò rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng và những yêu cầu mới đối với Ngân hàng thương mại Việt Nam trong
tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở vận dụng các kiến thức khoa học đã
học và tổng kết tình hình hoạt động thực tiễn.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý rủi
ro tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, những kết quả đạt được và
những yếu kém, tìm ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm.
- Đề ra các giải pháp và kiến nghò nhằm nâng cao hiệu quả quản trò rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, bảo đảm an toàn và phát
triển bền vững của hoạt động tín dụng của ngân hàng trong tình hình hội nhập
kinh tế quốc tế.
3. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 trong mối tương quan với hoạt động của các
ngân hàng thương mại khác trên lãnh thổ Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với các phương pháp:
thống kê, so sánh, phân tích, khái quát… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp thu nhập, xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ
các báo cáo thường niên, các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh, từ các cơ
quan thống kê, báo, đài… và được xử lý trên máy tính.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
- 9 -
- Thông qua luận văn này, tác giả mong muốn đề xuất một số giải pháp
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản trò rủi ro tín dụng tại NHNTVN trên cơ sở
nghiên cứu khoa học, tổng kết, đánh giá toàn diện và có hệ thống.
-
Đề tài có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản trò rủi ro tín dụng
của NHNTVN. Một số giải pháp hiện đang được triển khai tại NHNTVN và
bước đầu đã đem lại kết quả rất khả quan.
- 10 -
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Tín dụng ngân hàng và ý nghóa của hoạt động tín dụng ngân hàng:
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Tín dụng: là một quan hệ giao dòch giữa hai chủ thể, trong đó một bên
chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất
đònh, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời gian đã
thỏa thuận.
Trong giao dòch này thể hiện các nội dung sau:
- Trái chủ hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho người đi vay một
lượng giá trò nhất đònh. Giá trò này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện
vật như hàng hóa, máy móc, thiết bò, bất động sản.
- Thụ trái hay còn gọi là người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một
thời gian nhất đònh, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi
vay phải hoàn trả cho người cho vay.
- Giá trò được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trò lúc cho vay hay nói
cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức.
Quan hệ tín dụng có thể diễn tả theo mô hình sau:
T (Giá trò tín dụng)
T + L (Giá trò tín dụng + Lãi)
Hình 1.1: Quan hệ tín dụng giữa người cho vay và người đi vay
Trái chủ
(Creditor)
Người cho vay
(Lender)
Thụ trái
(Debtor)
Người đi vay
(Borrower)
- 11 -
Trong hoạt động thực tiễn, quan hệ tín dụng được hình thành hết sức đa dạng,
chẳng hạn hai người bình thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên với thời
gian, chúng ta thấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra, và ngày nay khi nói đến tín
dụng, người ta nghó ngay tới các NH, vì các cơ quan này chuyên làm các việc
như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác, và cả phát hành giấy bạc nữa. Mặt
khác, với sự phát triển của nền kinh tế, các hành vi tín dụng cá nhân dần dần
chuyển sang cho NH. Đó là lý do khi nói tới tín dụng là người ta đồng nhất tín
dụng với cho vay của NH.
Tín dụng ngân hàng: là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ NH
cho khách hàng trong một thời hạn nhất đònh với một khoản chi phí nhất đònh.
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình
thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê
tài chính và hình thức khác theo qui đònh của NHNN. Trong các hoạt động cấp
tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
1.1.2 Ý nghóa của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng:
Trong nền kinh tế thò trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản
của NH, là cơ sở chủ yếu để đánh giá chất lượng hoạt động NH. Đối với hầu hết
các NH, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ
tín dụng chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của NH. Cấp tín dụng còn là
khởi điểm của việc khách hàng sử dụng nhiều dòch vụ phi tài sản của NH. Mặc
dù đem lại lợi nhuận cao cho NH nhưng hoạt động tín dụng cũng chính là hoạt
động ẩn chứa nhiều rủi ro nhất. Do đó nó cần nhận được sự chú ý đặc biệt của
các nhà quản trò NHTM cũng như công tác giám sát, điều chỉnh hoạt động của
NHTW. Trong hầu hết các trường hợp, một danh mục cho vay được quản trò kém
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại của một NH, ảnh hưởng đến cả hệ
thống tài chính và đôi khi là mở đầu của một cuộc khủng hoảng kinh tế.
- 12 -
1.2 Rủi ro tín dụng - nguyên nhân và hậu quả:
1.2.1 Khái niệm chung về rủi ro:
Rủi ro (risk) là một sự không chắc chắn (uncertainty), một tình trạng bất ổn
hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn
nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán
được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn
nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là
sự bất trắc chứ không phải là rủi ro.
Rủi ro được xem như là sự khác biệt giữa giá trò thực tế và giá trò kỳ vọng.
Giá trò kỳ vọng chính là giá trò trung bình có trọng số của một biến nào đó với
trọng số chính là xác suất xảy ra giá trò của biến đó. Sự khác biệt giữa giá trò
thực tế so với giá trò kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn. Do vậy, độ lệch
chuẩn hay phương sai (bình phương độ lệch chuẩn) chính là thước đo của rủi ro.
1.2.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng:
Rủi ro ngân hàng:
Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi
vay, là kênh dẫn vốn quan trọng nhất của nền kinh tế. Hoạt động của ngân hàng
trong nền kinh tế thò trường rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lónh vực khác
nhau của nền kinh tế, chòu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ
quan như kinh tế, chính trò, xã hội… Hơn nữa, ngân hàng không chỉ hoạt động
trong lónh vực huy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều lónh vực khác như
thanh toán, bão lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, phát hành thẻ… Do đó,
hoạt động của các ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro chung đối với một
ngân hàng có nghóa là mức độ không chắc chắn liên quan tới những sự kiện,
những tình huống gây nên những tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập
và lợi nhuận ngân hàng giảm đi so với dự kiến ban đầu. Rủi ro có thể được đo
- 13 -
lường cho các loại sản phẩm, dòch vụ khác nhau của ngân hàng. Thông thường
mức lợi nhuận mong đợi càng cao thì xác suất xảy ra rủi ro cũng càng cao.
Các ngân hàng được coi là kinh doanh thành công khi mức độ rủi ro của họ
được giữ ở mức hợp lý, được kiểm soát trong phạm vi và năng lực tài chính của
ngân hàng.
Do đặc thù kinh doanh nên hoạt động NH phải đối mặt với các loại rủi ro
như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt
động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động, rủi ro quốc gia và những rủi ro
khác. Trong tất cả các loại rủi ro kể trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là
loại rủi ro lớn nhất, phức tạp nhất và là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM.
Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) dẫn đến một khách hàng vay hoặc một
đối tác không hay không thể thực hiện nghóa vụ đã thỏa thuận trong Hợp đồng
tín dụng làm cho ngân hàng không thu đầy đủ hoặc không thu được cả gốc lẫn
lãi của khoản vay.
Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tài sản
nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề là đã ảnh hưởng đến thu
nhập của ngân hàng, đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng, hoặc trong trường
hợp xấu nhất, làm cho ngân hàng phá sản. Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt
động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của
ngân hàng như: các hoạt động bảo lãnh, cam kết, chấp nhận tài trợ thương mại,
cho vay ở thò trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
1.2.3 Nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng:
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể phân loại theo nhiều
tiêu thức khác nhau. Một trong những cách phân loại thông dụng là phân tích
nguyên nhân từ phía người đi vay và người cho vay.
- 14 -
Nguyên nhân từ phía người vay:
Các nguyên nhân dẫn đến khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng
thường được sắp xếp theo hai nhóm sau:
- Nhóm nguyên nhân chủ quan: là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng.
Đó có thể do trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng
vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Cũng
có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ trong khi các biện pháp
xử lý thu hồi nợ của ngân hàng kém hiệu quả.
- Nhóm nguyên nhân khách quan: là những tác động ngoài ý chí của khách
hàng như: thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh
tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do
biến động thò trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay
đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể
khắc phục được. Từ đó, doanh nghiệp dù cho có thiện chí nhưng vẫn không
thể trả được nợ ngân hàng.
Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Rủi ro tín dụng tín dụng có thể phát sinh do những nguyên nhân sau:
- Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều
kiện cho vay.
- Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trò rủi
ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín
dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. Đối với cho vay doanh
nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết đònh cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên
kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng.
- Năng lực dự báo, phân tích và thẩm đònh tín dụng, phát hiện và xử lý khoản
vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu, nhất là đối với các ngành đòi
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét