Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các xã thuộc chương trình 135 tại huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

Khoá luận tốt nghiệp
Thứ hai, coi nguồn nhân lực là yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất nên khi nghiên cứu
chỉ chú ý từ yếu tố phát triển nguồn nhân lực là đào tạo kỹ năng lao động và vấn đề giải
quyết việc làm
Do vậy, có thể đưa ra khái niệm chung về nguồn nhân lực như sau: “ Nguồn nhân lực
của một quốc gia (vùng lãnh thổ) là toàn bộ tiềm năng lao động của con người có được
trong một thời kỳ nhất định phù hợp với kế hoạch và chiến lược phát triển đất nước. Tiềm
năng hay lượng lao động là tổng hợp các yếu tố thể lực, trí tuệ và tâm lực của nguồn lao
động của một quốc gia (vùng lãnh thổ) đáp ứng được đòi hỏi về cơ cấu lao động phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội”[11.4]
1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực.
UNESCO quan niệm rằng: phát triển nguồn nhân lực là làm cho sự lành nghề của dân
cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Tổ chức lao động
quốc tế (ILO) cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn. Nó không
chỉ là trình độ lành nghề hay rộng hơn là đào tạo, mà còn là phát triển năng lực và sử dụng
năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề
nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện không chỉ nhờ quá trình đào
tạo, bồi dưỡng mà còn cả sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và quá trình làm việc
của người lao động
Có thể hiểu một cách chung nhất: “ Phát triển nguồn nhân lực là phát triển nhân tố con
người, gia tăng toàn diện giá trị con người trên các mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực, năng lực
lao động sáng tạo, đồng thời phân bố, sử dụng, phát huy có hiệu quả nhất năng lực sáng tạo
của con người để phát triển đất nước”.
* Quan niệm của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực
Trên cơ sở kế thừa và phát triển có chọn lọc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kết hợp với việc tham khảo kinh nghiệm của các nước phát
triển đi trước, qua nhiều kỳ Đại Hội, Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân
lực đối với sự phát triển kinh tế. Đại hội VII của Đảng khẳng định: “Nguồn nhân lực lớn
nhất, quý nhất của chúng ta là nguồn nhân lực con người”. Đại hội VIII của Đảng tiếp tục
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
5
Khoá luận tốt nghiệp
khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững”. Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định “… nguồn lực con người -
yếu tố cơ bản về phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [2.108],… con
người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH,
HĐH…” [2,201]. Đại hội X của Đảng lại tiếp tục khẳng định “Tăng cường phát huy nội
lực bằng cách phát triển nguồn nhân lực chủ yếu cho giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng chiến lựơc phát triển nguồn lực, chiến
lược phát triển con người, xem con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là
mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc CNH,
HĐH, khẳng định con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí lực, khả năng lao động
năng lực sáng tạo và tính tích cực chính trị - xã hội, cả về đạo đức, tâm hồn và tình cảm
chính là mục tiêu, là động lực của sự nghiệp CNH, HĐH… mọi chủ trương đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm quản triệt tư trưởng chăm lo bồi dưỡng và
phát huy nhân tố con người, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam
1.1.3. Phân loại nguồn nhân lực.
* Theo nhiều tài liệu nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ta chia thành 3 loại chính
như sau:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi
lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc.
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, khái niệm này gọi là dân cư hoạt động, có nghĩa là tất
cả những người có khả năng làm việc trong dân cư tính theo độ tuổi lao động quy định.
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể tâm lý - sinh lý xã hội mà con
người tham gia vào quá trình lao động. Gíơi hạn độ tuổi lao động được quy định tùy thuộc
vào điều kiện KT - XH của từng nước và trong từng thời kỳ.
* Ở Việt Nam, giới hạn độ tuổi như sau:
+ Giới hạn dưới: Quy định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao động là 15 tuổi
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
6
Khoá luận tốt nghiệp
+ Giới hạn trên: Quy định tuổi về hưu, ở nước ta quy định tuổi về hưu 55 đối với nữ và
60 đối với nam
- Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh
tế). Đây là những người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế văn
hóa và xã hội.
- Nguồn nhân lực dự trữ: Nguồn nhân lực dự trữ của nền kinh tế bao gồm những người
trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do khác nhau họ không có công việc ổn định ngoài xã
hội. Số người này đóng vai trò của một nguồn dự trữ về nguồn nhân lực bao gồm:
+ Những người làm công việc nội trợ gia đình: Đây là nguồn nhân lực đáng kể và đại
bộ phận là phụ nữ. Khi điều kiện KT-XH và công việc gia đình thuận lợi thì họ sẵn sàng
tham gia vào lực lượng lao động của xã hội
+ Những người đã tốt nghiệp phổ thông và trường chuyên nghiệp được coi là nguồn
nhân lực quan trọng và có chất lượng. Đây là nguồn nhân lực ở độ tuổi thanh niên, có sức
khỏe, có trình độ, nhanh nhạy, dễ tiếp thu cái mới
+ Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động, chưa học hết THPT, không tiếp tục học nữa
muốn tìm việc làm
+ Nguồn nhân lực ở độ tuổi lao động đã tốt nghiệp ở các trường chuyên nghiệp (Trung
cấp, cao đẳng, đại học) thuộc các chuyên môn khác nhau đang tìm việc làm
+ Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự cũng thuộc nguồn nhân lực dự trữ, có
khả nang tham gia vào hoạt động kinh tế
+ Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp muốn tìm việc làm, cũng là
nguồn nhân lực dự trữ, sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế
1.2. Chương trình 135 và các giai đoạn hình thành
1.2.1. Chương trình 135
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và
miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một trong các chương trình xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998. Chương trình được
biết đến rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
7
Khoá luận tốt nghiệp
Việt Nam phê duyệt thực hiện chương trình này có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg.
Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn
1 từ năm 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, đến
năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi
giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I. Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010).
1.2.2 Các giai đoạn hình thành chương trình 135
1.2.2.1 Giai đoạn I (1997-2006)
Điều hành Chương trình 135 là Ban chỉ đạo chương trình phát triển kinh tế xã hội các
xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Người đứng đầu ban này là một phó
thủ tướng chính phủ; phó ban là Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; và các thành viên là một số
thứ trưởng các bộ ngành và các đại diện đoàn thể xã hội.
- Mục tiêu cụ thể của Chương trình 135 là:
* Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số;
* Phát triển cơ sở hạ tầng;
* Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế,
nước sạch
* Nâng cao đời sống văn hóa. Có nhiều biện pháp thực hiện chương trình này, bao gồm
đầu tư ồ ạt của nhà nước, các dự án nhà nước và nhân dân cùng làm (nhà nước và nhân dân
cùng chịu kinh phí, cùng thi công), miễn giảm thuế, cung cấp miễn phí sách giáo khoa, một
số báo chí, v.v
1.2.2.2 Giai đoạn II (2006-2010)
Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946 xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp
đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của
Chương trình 135.
Mục tiêu tổng quát
Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng sản xuất gắn với thị trường.Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
8
Khoá luận tốt nghiệp
người dân. Giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước. Đến
năm 2010: Trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%.
Nội dung chính chương trình
Nhà nghèo trước khi chưa có chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản suất của đồng bào các dân tộc đào tạo cán bộ khuyến
nông thôn bản. Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, xây dựng các mô hình sản xuất có
hiệu quả, phát triển công nghiệp chế biến bảo quản. Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây
trồng có năng suất cao, chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị. Phát triển cơ sở hạ tầng thiết
yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Làm đường dân sinh từ thôn, bản đến trung tâm
xã phù hợp với khả năng nguồn vốn, công khai định mức hỗ trợ nhà nước. Xây dựng kiên
cố hóa công trình thủy lợi: Đập, kênh, mương cấp 1 - 2, trạm bơm, phục vụ tưới tiêu sản
xuất nông nghiệp và kết hợp cấp nước sinh hoạt. Làm hệ thống điện hạ thế đến thôn, bản;
nơi ở chưa có điện lưới làm các dạng năng lượng khác nếu điều kiện cho phép. Xây dựng
các công trình cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng. Xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng thôn,
bản (tùy theo phong tục tập quán) ở nơi cấp thiết…
1.2.3 Vai trò phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình CNH, HĐH hiện nay.
CNXH có được sử dụng thành công hay không, thì phải tùy thuộc vào việc đã phát huy
tốt nguồn lực hay chưa? Khi bước vào xây dựng CNXH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Muốn xây dựng CNXH trước hết cần có con người”. [17]
- Thứ nhất: Vai trò nguồn nhân lực trong lĩnh vực kinh tế
Trong bất cứ một xã hội nào, người lao động cũng là yếu tố quan trọng nhất trong lực
lượng sản xuất. Ngày nay, khi KH-KT phát triển hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hóa
ngày càng cao thì vai trò của nguồn lao động trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng. Lê
nin chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là người lao động” [17]. Trong quá
trình xây dựng CNXH, người lao động đã trở thành những người làm chủ đất nước, làm
chủ cả quá trình tổ chức quản lý sản xuất, xây dựng kế hoạch và phân phối sản phẩm.
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển bình vững
- Thứ hai: Vai trò nguồn nhân lực trong lĩnh vực chính trị
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
9
Khoá luận tốt nghiệp
Xét nguồn nhân lực trên lĩnh vực chính trị khi mọi người có năng lực, thấy được trách
nhiệm của mình trong việc lựa chọn người có đạo đức, có tài vào cơ quan nhà nước sẽ góp
phần xây dựng nhà nước vững mạnh. Nói về vai trò của quần chúng tham gia vào công việc
nhà nước, Hồ Chí Minh đã viết: “ Khi người dân biết hưởng quyền dân chủ của mình dám
nói, dám làm thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”
[17]. Có thể khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quan trong trong việc xây dựng nhà
nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong quá trình đấu tranh bảo
vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu
phá hoại của kẻ thù.
- Thứ ba: Vai trò nguồn nhân lực trong lĩnh vực xã hội
Con người không chỉ là chủ thể của hoạch động sản xuất vật chất mà còn là chủ thể của
quá trình sản xuất tinh thần trong xã hội. Nguồn lực con người xét về mỗi cá nhân còn là
yếu tố cấu thành con người có thể khai thác. Sự phối hợp giữa các thành viên trong cộng
đồng cũng tạo ra sức mạnh to lớn trong việc phát huy nguồn lực con người để nhận thức,
cải tạo tự nhiên, xã hội. Những hiệu quả của việc phát huy đó lại tùy thuộc vào chế độ xã
hội, cách thức tổ chức xã hội.
- Thứ tư: Vai trò của nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa
Dưới chế độ CNXH nhân dân lao động được làm chủ trong đời sống văn hóa xã hội.
Góp phần xây dựng nên những công trình văn hóa, những sáng tạo ra nghệ thuật to lớn.Con
người có văn hóa là những con người có nghĩa vụ bảo tồn những di sản văn hóa tinh thần
của đất nước và của nhân loại
Con người có tri thức khoa học, có năng lực nghiên cứu tạo ra những khả năng cho họ
có những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp phát triển khoa học của đất nước
Nguồn lực con người không biết khai thác, phát huy thì thật là lãng phí. Trong khi đó
nước ta đang là nước nghèo, kinh tế kém phát triển, thì việc phát huy nguồn lực con người
để xây dựng đất nước thì càng trở nên quan trọng.
1.3 Vai trò phát triển nguồn nhân lực trong các xã thuộc chương trình 135
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
10
Khoá luận tốt nghiệp
Nói đến nguồn nhân lực là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã
hội. Tuy nhiên, đó không phải là chủ thể biệt lập, riêng lẽ mà là những chủ thể đuợc tổ
chức về lực luợng, thống nhất về tư tưởng và hành động. Nói một cách cụ thể hơn, nguồn
nhân lực với tư cách là động lực của sự phát triển chính là tổng hợp của những chủ thể với
những phẩm chất nhất định tham gia vào quá trình chung của xã hội. Cần hiểu rằng “tổng
hợp những chủ thể” này không phải là tập hợp số lượng người, mà nó là tổng hợp sức
mạnh của chỉnh thể của những ngươi hành động. Sức mạnh này bắt nguồn trước hết từ
những phẩm chất bên trong của mỗi chủ thể và nó đuợc nhân lên gấp bội trong hoạt động
thực tiễn. Vậy, đối với các xã thuộc chương trình 135 thì vai trò nguồn nhân lực có chất
luợng còn có ý nghĩa gấp bội, nó thúc đẩy cho quá trình vận động phát triển.
Các xã 135 còn nhiều khó khăn về điều kiện KT-XH cũng như về mặt nhân tố con
người, trên địa bàn các xã 135 sinh sống chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống vật
chất của người dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí của người dân thấp, chính vì đời
sống kinh tế của các hộ dân còn thấp mà trong thời gian qua có nhiều ngườii dân trên các
địa bàn này đã nghe lời xúi dục của kẻ thù đi vựơt biên sang bên nước bạn Campuchia nó
gây mất ổn định về an ninh của đất nước. Do đó, vấn đề phát triển nguồn nhân lực tại các
xã này đóng góp vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống kinh tế xã hội cũng như
nâng cao được dân trí của người dân trên địa bàn và giữ vững anh ninh quốc phòng trong
địa bàn của các xã.
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề sẽ khuyến khích người dân hăng hái sản
xuất kinh tế, tạo đồng lực phát triển kinh tế gia đình của người dân tại địa phương đi lên,
phát triển nguồn nhân lực tại địa phương này chính là cầu nối để truyền đạt những chủ
trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước với người dân và ngược
lại. Qua đó giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị góp phần vào phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Hiện nay, trên địa bàn các xã 135 nói riêng và toàn huyện Đăk Mil nói chung dân số
ngày một tăng lên trong khi đó đất đai chật hẹp và còn chịu nhiều ảnh hưởng từ khí hậu
thời tiết nó làm trì trệ về phát triển kinh tế xã hội, đời sống của người dân bấp bênh, do đó
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
11
Khoá luận tốt nghiệp
phát triển nguồn nhân lực là điều rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng được
trong thời đại hội nhập của thế giới hiện nay, đồng thời chính phát triển nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực tại các xã này sẽ tạo điều kiện cho cuộc sống của người dân nơi đây
tiếp thu được trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, đưa đuợc máy móc công nghệ vào
các vùng sâu, vùng sa giảm bớt gánh nặng lao động chân tay cho ngưòi dân nơi đây.
Tóm lại, vai trò phát triển nguồn nhân lực tại các xã 135 nó không chỉ mang ý nghĩa cho
người dân tại địa bàn sinh sống mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển của đất nước,
giảm bớt được gánh nặng cho đất nước.
1.4 Các chỉ số đánh giá phát triển nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu
chủ yếu sau:
1.4.1 Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.
Sức khoẻ theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần,
là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tuổi thọ bình quân.
- Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.
- Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức
khoẻ.
- Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc
HIV/AIDS…
1.4.2. Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân
lực, và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Những chỉ tiêu đó là:
- Tỉ lệ người lớn biết chữ.
- Tỉ lệ đi học chung.
- Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
12
Khoá luận tốt nghiệp
1.4.3 Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó
biểu hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả
năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn
của nguồn nhân lực được đo bằng:
- Tỉ lệ cán bộ tổ chức.
- Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
- Tỉ lệ cán bộ trên đại học.
1.4.4 Chỉ số phát triển con nguời HDI
HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người trên ba phương diện sức khoẻ, tri
thức và thu nhập. Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau:
- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình.
- Kiến thức được đo bằng tỉ lệ nguời lớn biết chữ ( với quyền số 2/3) và tỉ lệ nhập học
các cấp giáo dục tiểu học,trung học và đại học (với quyền số 1/3)
- Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người (tính theo sức mua tương đương PPP USD
Mỹ)
Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn
mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng xã hội.
1.4.5 Một số chỉ tiêu khác.
Bên cạnh những chỉ tiêu có thể lượng hoá được như trên, người ta còn xem xét đến các
chỉ tiêu định tính thể hiện năng lực phẩm chất của người lao động.
1.5 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia trên thế giới
1.5.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.
So với các nước tiến hành CNH sớm như Liên xô, Tây Âu, Nhật Bản và các quốc gia
Đông Á không có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển, diện tích nhỏ hẹp, đất chật
người đông, thị trường nội địa bó hẹp…Vì không có lợi thế về điều kiện tự nhiên các quốc
gia, các vùng lãnh thổ này đều sớm nhận ra rằng tài nguyên chính của họ là nguồn nhân
lực. Chính vì thế, không có con đường nào khác là phải đầu tư vào nhân tố con người, khai
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
13
Khoá luận tốt nghiệp
thác tiềm năng nguồn nhân lực để bù đắp lại sự cạn kiệt nguồn tài nguyên . Vì vậy, ngay từ
đầu yếu tố con người đã đặt ra vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển. Đây là là mục
tiêu lâu dài xuyên suốt trong quá trình CNH, HĐH ở các quốc gia nói chung và Việt Nam
nói riêng.
Kinh nghiệm
- Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một nước có diện tích nhỏ hẹp, đất chật, người đông, tài nguyên thiên nhiên
thì nghèo nàn, lại là nước bại trận sau chiến tranh thế giới thứ hai, thiếu vốn, tụt hậu so với
các nước phương Tây. Nhật Bản tiến hành CNH hóa muộn hơn so với các nước như Liên
Xô và Tây Âu nhưng họ tìm ra cách duy nhất để phát triển đất nước đó là đầu tư cho giáo
dục, đầu tư cho con người. Vì vậy, ngay từ bước đầu tiên trong chính sách này, Nhật Bản
đã lấy con người làm vị trí trung tâm, cũng là mục tiêu, chiến lược xuyên suốt trong quá
trình CNH của đất nước.
Ngày nay, chính sách này của Nhật Bản đã được nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên,
mỗi nước có những đặc trưng, nét nổi bật riêng. Đối với Nhật Bản, nét nổi bật là họ đã
đánh giá đúng các nguồn lực và vai trò các yếu tố để từ đó họ chọn mô hình phát triển phù
hợp với nguồn lực hiện có. Điều đó khẳng định sự khác hẳn giữa Nhật Bản và các nước
phương Tây và Liên Xô là: Nhật Bản đã lực chọn mô hình phát triển kinh tế bền vững dựa
vào phát huy nhân tố con người và đã biến nguồn nhân lực thành lợi thế của quốc gia.
Đặc điểm nổi bật trong chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản chính là hệ
thống kích thích cho giáo dục rất hiệu quả, chính nó đã kích thích, đã động viên mỗi người
cũng như tập thể cống hiến hết trí thức, kinh nghiệm và năng lực cho công việc của mình.
Những kích thích, động viên về kinh tế ở các xí nghiệp ở các công ty, xí nghiệp Nhật Bản
bao gồm nhiều hình thức khác nhau từ việc tăng lương hàng năm, tiền thưởng định kỳ các
khoản trợ cấp nhằm duy trì phúc lợi cho người lao động Nhật Bản luôn tin tưởng rằng: Họ
có thể nâng cao thu nhập, có thể nâng cao cuộc sống của mình từ công việc mình đang làm.
Như vậy, Nhật Bản đã thực hiện CNH, HĐH vì có một sự lựa chọn khôn ngoan, đúng
đắn đó là muốn phát triển kinh tế trước hết phải phát triển nguồn nhân lực con người, phát
Sinh viên thực hiện: Y Thoa
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét