5
ứng, góp phần tác động vào sự hình thành lãi suất, ảnh hưởng đến hoạt động của thị
trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Tiếp theo đó là hoạt động đầu tư, một hoạt động tuy có quy mô và chiếm tỷ
trọng nhỏ song cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tạo điều kiện cho các
NHTM thâm nhập sâu vào nền kinh tế.
Hoạt động quan trọng khác bên cạnh cho vay và đầu tư là chiết khấu, cầm cố
các giấy tờ có giá. Ngay từ thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu
mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương, những người bán các
khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền mặt.
Ngoài ra bên tài sản của NHTM còn có khoản mục ngân quỹ, trong đó có dự
trữ bắt buộc và dự trữ vượt quá. Đó là số tiền các NHTM trước khi tiến hành cho vay
và đầu tư phải dự trữ một phần nguồn vốn của mình để đảm bảo sự an toàn trong
hoạt động kinh doanh. Khoản mục dự trữ bắt buộc sẽ gửi tại NHTW, phần còn lại
được giữ tại ngân hàng trong tài khoản thanh toán. Đây chính là tồn quỹ nghiệp vụ
của ngân hàng, những khoản sinh lời rất thấp nhưng lại có tính lỏng cao nhằm đảm
bảo cho khả năng thanh toán và sự an toàn trong các hoạt động kinh doanh khác của
Ngân hàng.
Các hoạt động sử dụng vốn còn lại của NHTM bao gồm: mua sắm tài sản cố
định, thực hiện các hoạt động tài trợ, quảng cáo….chiếm tỷ trọng nhỏ và không trực
tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng góp phần phát triển và quảng bá các
hoạt động ngân hàng.
Hoạt động trung gian tài chính hay hoạt động tài trợ ngoại bảng của ngân
hàng thương mại
Đây là những hoạt động rất cơ bản và chính là những hoạt động đầu tiên của
một ngân hàng thương mại sơ khai.
Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Lịch sử cho thấy một trong những dịch vụ ngân
hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ, đó là việc một ngân hàng đứng ra
mua bán một loại tiền này để lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi
đó rất quan trọng đối với khách đi du lịch hay những khách buôn từ địa phương khác
đến.
5
6
Bảo quản vật có giá: Từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện
việc lưu trữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Các
giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang
được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền
Cung cấp các tài khoản giao dịch. Một dịch vụ mới, quan trọng trong thời kỳ
cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, Châu Mỹ là tài khoản tiền gửi giao dịch, một tài
khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và
dịch vụ. Việc ra đời loại tài khoản tiền gửi này đã cải thiện đáng kể hiệu quả của quá
trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng
và an toàn hơn. Sau này với sự phát triển của tín dụng thương mại, các hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt đã không ngừng được phát triển, phương thức tổ
chức thanh toán cho khách hàng và giữa các ngân hàng với nhau cũng đa dạng và
thuận lợi hơn, nhờ đó làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ của nền kinh tế, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn.
Ngoài ra các ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ như bảo lãnh, uỷ thác, tài trợ
thuê mua….ngày càng đáp ứng được tất cả các yêu cầu của khách hàng trong nền
kinh tế.
1.1.2.2 Hoạt động đa dạng của ngân hàng thương mại hiện đại
Cùng với sự phát triển và yêu cầu của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại
truyền thống đã không ngừng đa dạng hoá và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp
ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đồng thời trở thành những ngân hàng
đa năng hiện đại.
So với các hoạt động truyền thống, hoạt động của NHTM đa năng có những
khác biệt sau:
Hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn được huy động bằng nhiều
hình thức hơn, đồng thời việc sử dụng vốn an toàn và hiệu quả hơn.
Nguồn vốn của NHTM đa năng vẫn bao gồm các khoản mục cơ bản như: vốn
chủ sở hữu, vốn huy động và vốn vay nhưng cơ cấu vốn và phương thức huy động
vốn đã có nhiều thay đổi. Các công cụ để huy động vốn đa dạng, phong phú hơn và
6
7
đã chú trọng rất nhiều đến lợi ích khách hàng. Đặc biệt, các NHTM đã mở rộng và
tăng cường huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng cách phát hành cổ
phiếu, trái phiếu với các kỳ hạn khác nhau.
Chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng ngày nay là tạo ra và cung cấp các
dịch vụ tài chính mà thị trường có nhu cầu. Trước đây, một trong những dịch vụ quan
trọng, chiếm tỷ trọng lớn nhất là cho vay. Ngày nay các ngân hàng đã thực hiện được
những khoản cho vay tài trợ đối với hoạt động đầu tư của các hãng kinh doanh hay
tài trợ cho chi tiêu của các thành viên trong xã hội. NHTM đã mở rộng đối tượng cho
vay từ chỗ chỉ ưu tiên cho các doanh nghiệp vay vốn để phục vụ sản xuất sang cho
vay tiêu dùng. Những khoản vay này tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho hàng
ngàn người. Mặc dù không phải tất cả những người này đều vay vốn ngân hàng
nhưng chắc chắn họ là những người được hưởng lợi gián tiếp từ hoạt động cho vay.
Các ngân hàng thương mại cũng có thể cho vay lẫn nhau. Tuy nhiên ngân hàng không
thể sử dụng toàn bộ số vốn huy động để cho vay. Một mặt, hầu hết các khoản cho vay
có tính thanh khoản thấp, ngân hàng không thể bán chúng trên thị trường một cách dễ
dàng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt. Một vấn đề khác nữa là những khoản cho vay
thuộc nhóm tài sản của ngân hàng có mức rủi ro cao nhất như rủi ro do vỡ nợ cao
nhất.
Vì tất cả những lý do trên, các ngân hàng đã phân chia danh mục tài sản của
mình vào một số loại hình tài sản sinh lời khác: đầu tư chứng khoán, kinh doanh
ngoại tệ, kinh doanh bất động sản . Ngân hàng chủ yếu đầu tư vào các loại chứng
khoán sau: tín phiếu và trái phiếu chính phủ, tín phiếu và trái phiếu công ty, các loại
chứng khoán nợ khác và một số loại cổ phiếu được pháp luật cho phép.
Về hoạt động trung gian, trước hết là tư vấn tài chính. Các NHTM thường
được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết
kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng,
từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư vấn về các cơ hội thị
trường trong và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ. Ngoài ra, các
ngân hàng còn quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu
7
8
tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn
hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Ngoài việc quản lý tiền mặt
cho các tổ chức, còn một xu hướng khác là việc cung cấp các dịch vụ tương tự cho
người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này đang lan rộng là do các công ty môi giới
chứng khoán đang cung cấp cho khách hàng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ
tài chính liên quan. Các hoạt động khác như cho khách hàng kinh doanh thuê mua
thiết bị, bán các dịch vụ bảo hiểm tín dụng cho khách hàng thông qua các liên doanh
hoặc thoả thuận đại lý kinh doanh độc quyền, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư
chứng khoán ở đó cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các
chứng khoán khác, cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư (bảo lãnh phát hành chứng
khoán) và ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn…. đã đưa ngân hàng thực sự trở
thành một “bách hoá tài chính”, cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Nhìn chung, danh mục dịch vụ
mà ngân hàng đa năng cung cấp đem lại sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng và làm
tăng thu nhập cho ngân hàng, cải thiện cơ cấu thu nhập của ngân hàng, tránh tập
trung thu nhập chủ yếu từ hoạt động cho vay truyền thống, giảm rủi ro cho ngân
hàng.
Về mặt cơ cấu tổ chức của một NHTM đa năng ngày nay cũng có khá
nhiều thay đổi. Các NHTM được tổ chức dưới dạng các công ty đa quốc gia hay
các tập đoàn tài chính, có trụ sở chính tại một nước nhưng có công ty thành viên
tại nhiều nước.
1.1.3. Hoạt động của NHTM trên TTCK
1.1.3.1 Phát hành chứng khoán
Để phục vụ cho nhu cầu tăng vốn dài hạn, ngoài hình thức huy động các loại
tiền gửi, vay NHTM khác trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng… ngân hàng thương
mại có thể huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu (đối với các ngân hàng
thương mại cổ phần là tăng vốn điều lệ) và trái phiếu để vay tiền từ nền kinh tế. Việc
các NHTM phát hành cổ phiếu, trái phiếu có ý nghĩa quan trọng: Một mặt nó góp
8
9
phần tăng cung hàng hoá cho thị trường chứng khoán, là động lực giúp cho thị trường
phát triển. Mặt khác nó là một kênh dẫn vốn quan trọng cho các NHTM để phục vụ
mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.
1.1.3.2 Đầu tư và kinh doanh chứng khoán
Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài
hạn, các NHTM ngày nay không chỉ thực hiện vai trò là một trung gian tài chính - sử
dụng nguồn vốn để cho vay hay biến các khoản tiết kiệm trong dân cư thành các
khoản đầu tư của ngân hàng nhằm mục đích sinh lợi- mà còn tham gia trên TTCK với
vai trò là nhà đầu tư trực tiếp. Hầu hết các NHTM đầu tư trên thị trường trái phiếu,
đặc biệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung và dài hạn.
Hoạt động đầu tư nhằm mục đích tăng thu nhập cho chính bản thân ngân hàng. Trên
thực tế, một số lượng lớn trái phiếu chính phủ và công trái là NHTM mua. Thêm nữa,
các ngân hàng còn thực hiện kinh doanh chứng khoán theo sự ủy thác của khách
hàng. Song song với các hoạt động đầu tư là đầu cơ chứng khoán trên thị trường: tiến
hành mua chứng khoán để bán chứng khoán tại các thời điểm khác nhau khi có sự
biến động của thị giá chứng khoán.
Các hoạt động kinh doanh chứng khoán trực tiếp nói trên ngày càng được các
ngân hàng chú trọng hơn vì chúng mang lại nhiều khoản thu nhập lớn cho ngân hàng.
Khi đưa ra quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán tại những thời điểm thích
hợp, ngân hàng là người có lợi thế hơn bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào khác vì có
đầy đủ các cơ sở thông tin về doanh nghiệp phát hành chứng khoán, khả năng chuyên
môn về phân tích thông tin, thẩm định năng lực tài chính tốt.
1.1.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Tại một số thị trường tài chính lớn trên thế giới, các trung gian tài chính, trong
đó có các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường trái phiếu với tư cách là đại
lý sơ cấp hoặc bảo lãnh phát hành. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức
Chính phủ khi muốn phát hành chứng khoán ra thị trường rất cần sự tư vấn của ngân
hàng. Với độ tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các NHTM có ưu thế lớn khi
9
10
tham gia bảo lãnh phát hành. Dưới sự bảo lãnh bằng uy tín của các Ngân hàng thương
mại lớn, chứng khoán sẽ được phát hành và đến với công chúng một cách dễ dàng
hơn, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các loại chứng khoán sớm được giao dịch tại
thị trường cấp hai.
1.1.3.4 Môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán
Với chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp, thực hiện kiểm soát và giám
sát bằng đồng tiền đối với các hoạt động kinh tế quốc dân, các ngân hàng thương mại
luôn có đầy đủ các thông thin và khả năng phân tích mọi mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh, tình hình tài chính, các nguồn tài trợ và cả xu hướng phát triển của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế. Vì vậy mà sự tư vấn của ngân hàng luôn có cơ sở thực tiễn,
và thông tin thường chính xác, đáng tin cậy cho khách hàng. Đến với các ngân hàng
thương mại, các cá nhân hay doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư vào chứng khoán sẽ
luôn có được những cơ hội tốt và những lựa chọn đầu tư đúng đắn, hiệu quả nhất.
1.1.3.5 Một số hoạt động khác
* Cho vay cầm cố chứng khoán
Xuất phát từ hình thức cho vay có tài sản đảm bảo, NHTM cho khách hàng
của mình vay để mua chứng khoán và sử dụng ngay các chứng khoán mua được làm
tài sản cầm cố cho khoản vay.
Để thực hiện các khoản vay cầm cố, khách hàng phải sử dụng tài khoản ký
quỹ. Theo đó, khách hàng sẽ ký quỹ một số tiền nhất định để mua chứng khoán, phần
còn lại khách hàng vay của NHTM. Đến kỳ hạn thoả thuận, khách hàng phải hoàn trả
vốn vay cùng lãi cho NHTM. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có
quyền bán chứng khoán cầm cố để thu hồi khoản vay.
Trong hoạt động cho vay cầm cố, rủi ro xảy ra đối với NHTM là chứng khoán
cầm cố có thể bị giảm giá tới mức giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản vay cầm
cố. Vì thế khi cho vay, NHTM phải có những nguyên tắc riêng để đảm bảo thu hồi
vốn và tránh tập trung cho vay quá mức vào một khách hàng hay một loại chứng
10
11
khoán nhất định. Hoạt động này thường đi kèm với hoạt động môi giới và hỗ trợ hoạt
động môi giới của NHTM.
* Quản lý thu nhập từ chứng khoán cho khách hàng
Xuất phát từ hoạt động lưu ký chứng khoán, NHTM tổ chức theo dõi tình hình
thu lãi chứng khoán khi đến hạn rồi gửi thông báo cho khách hàng. Tuy nhiên trên
thực tế, các NHTM thường không trực tiếp quản lý thu nhập chứng khoán mà việc trả
lãi chứng khoán do các tổ chức phát hành tự động chuyển thành chứng khoán tại
trung tâm lưu ký chứng khoán thuộc sở giao dịch chứng khoán.
Ngoài việc quản lý thu nhập từ chứng khoán cho khách hàng, các NHTM còn
quản lý số tiền đầu tư chứng khoán cho các nhà đầu tư chứng khoán.
* Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của những người đầu
tư, được uỷ thác cho các công ty quản lý quỹ đầu tư để quản lý và đầu tư vào chứng
khoán nhằm mục đích phục vụ lợi ích cho những người đầu tư vào quỹ. Để hình
thành một quỹ đầu tư chứng khoán, phải có một công ty quản lý quỹ đầu tư đứng ra
thành lập quỹ huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ quỹ đâu tư. Khi quỹ
đã được thành lập, công ty quản lý quỹ có thể sử dụng số tiền thu được từ việc phát
hành chứng chỉ quỹ đầu tư vào các loại chứng khoán trên thị trường theo điều lệ của
quỹ đầu tư chứng khoán. Trong hoạt động quản lý đầu tư, công ty quản lý quỹ phải
tách bạch các tài sản của công ty với tài sản của quỹ. Để thực hiện tốt việc này, phải
có một ngân hàng giám sát đứng ra quản lý tiền và lưu ký chứng khoán của quỹ.
Công ty quản lý quỹ có trách nhiệm thực hiện kinh doanh chứng khoán do điều lệ
quỹ và Nghị quyết của Đại hội những người đầu tư. Khi thực hiện quản lý quỹ đầu
tư, NHTM sẽ được hưởng một khoản phí quản lý do điều lệ quỹ quy định.
* Thực hiện uỷ thác đầu tư cho khách hàng
Xuất phát từ nghiệp vụ uỷ thác truyền thống, các NHTM hiện đại ngày nay đã
quan tâm phát triển dịch vụ uỷ thác đầu tư cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu đầu tư
11
12
của khách hàng khi họ không có khả năng, điều kiện để tự thực hiện. Qua đó, NHTM
thay mặt cho khách hàng để quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán có mặt trên
thị trường sau khi đã được sự đồng ý của khách hàng. Tuỳ theo từng điều kiện nhất
định, NHTM có thể toàn quyền xử lý các tình huống và tự ra quyết định đầu tư hợp
lý.
1.1.4. Vai trò của Ngân hàng thương mại trên Thị trường chứng khoán
Qua phân tích hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng
khoán ở phần trên, có thể khái quát rằng ngân hàng thương mại có hai nhóm hoạt
động: vừa là người phát hành, kinh doanh chứng khoán, vừa là người cung cấp các
dịch vụ hỗ trợ. Là một cấu thành của thị trường tài chính, sự phát triển của TTCK sẽ
kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng. Kinh nghiệm của nhiều
nước cho thấy rằng, “nếu thị trường chứng khoán là một cạnh cắt của thị trường tài
chính thì các ngân hàng vừa là nền móng, vừa là xi măng”. Như vậy có thể thấy hệ
thống ngân hàng và TTCK có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết hợp tác động với
nhau cùng phát triển. Vai trò của hệ thống ngân hàng trong sự phát triển TTCK được
thể hiện trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
1.1.4.1. Trên thị trường sơ cấp
Là một trong những chủ thể cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán,
hoạt động của ngân hàng thương mại đã tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển
của thị trường chứng khoán.
Các ngân hàng thương mại có thể phát hành và bán cổ phiếu của mình, phát
hành để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc tăng vốn bổ sung, phát hành trái phiếu
để huy động vốn từ nền kinh tế.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng gián tiếp tham gia vào quá trình tạo
hàng hoá cho thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động trên thị trường sơ cấp
bằng việc cung cấp các dịch vụ về tư vấn cho các doanh nghiệp phát hành chứng
khoán, làm đại lý hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ, chứng khoán doanh
nghiệp.
12
13
Như vậy ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo ra
lượng hàng hoá đa dạng, phong phú cho thị trường chứng khoán.
1.1.4.2. Trên thị trường thứ cấp
NHTM có vai trò quan trọng trên thị trường thứ cấp như sau:
a. Đối với các chủ thể khác nhau tham gia trên thị trường
Hoạt động trên thị trường thứ cấp tuân theo ba nguyên tắc cơ bản là: Nguyên
tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai. Trong đó, nguyên tắc
trung gian đòi hỏi “những người muốn mua hay bán chứng khoán không tiến hành
giao dịch trực tiếp với nhau mà phải thông qua các nhà trung gian môi giới”. Vì vậy,
các NHTM, đặc biệt là các CTCK của NHTM là cầu nối giữa khách hàng hay các nhà
đầu tư với các nhà phát hành trên TTCK. Thông qua các trung gian tài chính như
NHTM, CTCK, hoạt động của TTCK sẽ đảm bảo đúng mục đích: ổn định, lành
mạnh, hợp pháp, các chứng khoán giao dịch được đảm bảo là chứng khoán thực, bảo
vệ lợi ích cho nhà đầu tư.
Ngoài ra, với nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư cho
khách hàng, NHTM có vai trò giúp khách hàng lựa chọn chứng khoán để đầu tư một
cách hiệu quả nhât.
Ngân hàng do có những quan hệ khách hàng lâu dài nên hệ thống thông tin
của ngân hàng cũng vô cùng quan trọng, đây chính là cơ sở để tham chiếu tính chính
xác, trung thực về thông tin liên quan đến các công ty niêm yết, đảm bảo nguyên tắc
công khai, minh bạch của TTCK. Đồng thời, việc ngân hàng thương mại tham gia sẽ
tiết kiệm chi phí trong việc thu thập và xử lý thông tin cho nhà đầu tư.
b.Đối với việc xác định giá cả trên thị trường.
Khi các ngân hàng tham gia vào mua bán chứng khoán, hoặc ngân hàng làm
cổ đông chiến lược cho một doanh nghiệp nào đó sắp phát hành chứng khoán, thì sẽ
có tác động đến cung và cầu chứng khoán trên thị trường, do đó làm thay đổi thị giá
chứng khoán theo chiều hướng nhất định. Ngoài ra, việc các ngân hàng được phép
chủ động điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay cũng tác động trực tiếp đến thị giá
13
14
chứng khoán. Thị trường tiền tệ và TTCK như hai bình thông nhau trong sự luân
chuyển vốn, lãi suất ngân hàng tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán:
vốn được chuyển từ TTCK sang thị trường tiền tệ hoặc ngược lại.Sau đó việc ổn định
giá cả trên thị trường chứng khoán cũng có sự tham gia không nhỏ của các NHTM.
Các NHTM và các CTCK phải giành một tỷ lệ nhất định mua vào khi giá chứng
khoán xuống quá thấp và bán ra khi giá thị trường lên quá cao.
1.2. Hoạt động đầu tư của NHTM trên TTCK
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hoạt động đầu tư chứng khoán của
NHTM
* Khái niệm
Hoạt động đầu tư chứng khoán là việc bỏ vốn thường xuyên, lâu dài hoặc là
trong ngắn hạn vào các chứng khoán có mức độ rủi ro khác nhau để mong kiếm
được thu nhập từ quyền sở hữu các chứng khoán đó.
* Đặc điểm hoạt động đầu tư chứng khoán của các Ngân hàng thương mại
Khác với hoạt động đầu tư của cá nhân nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán,
hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại có những đặc điểm như: tính chuyên
môn hoá cao, quy mô đầu tư lớn, danh mục đầu tư linh hoạt và đa dạng, yêu cầu an
toàn vốn cao, hoạt động đầu tư bị kiểm soát, phạm vi đầu tư lớn và đa dạng…
Tính chuyên môn hoá cao
Với tư cách là một trung gian tài chính, chuyên hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh chứng khoán của Ngân hàng thương mại được tổ
chức và thực hiện một cách chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá. Đó là trình độ nhân
lực của ngân hàng, cơ sở vật chất, sự quản lý hoạt động đầu tư. Đặc biệt là hệ thống
thông tin mà ngân hàng nắm giữ, các phân tích về khả năng tài chính của các doanh
nghiệp niêm yết, đây là điều khó khăn và tốn nhiều chi phí nếu nhà đầu tư cá nhân
muốn có được. Bởi vậy, hoạt động đầu tư chứng khoán của các NHTM là hoạt động
có chất lượng đầu tư cao, độ rủi ro thấp…
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét