Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Nghiên cứu chuẩn HL7 dùng trao đổi dữ liệu điện tử trong y khoa

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

CHƯƠNG 1:

GIỚI THIỆU

U
1.1.

Mở đầu 1

1.2.

Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn 2

CHƯƠNG 2:

TỔNG QUAN

2.1.

LỊCH SỬ CHUẨN THÔNG TIN Y TẾ HL7 3

2.2.

NGUYÊN TẮC MÃ HÓA TRONG HL7 6

2.2.1.

Nguyên tắc 6

2.2.2.

Ví dụ về mã hóa và giải mã một bản tin HL7 6

2.3.

CÁC KHÁI NIỆM CƠ SỞ TRONG HL7 7

2.3.1. Sự kiện kích khởi (trigger event) 7

2.3.2. Môi trường truyền thông 11

2.3.3. Bản tin 13

2.3.4. Đoạn 14

2.3.5. Trường 14

2.3.6. Ký hiệu phân định bản tin (message delimiter) 18

2.3.7. Loại dữ liệu 20

2.3.8. Sử dụng các trình tự thoát ra trong trường văn bản 27

2.3.9. Các quy luật kiến trúc dữ liệu 30

2.3.10. Cấu tạo một bản tin quản trị bệnh nhân 32

2.4.

CẤU TRÚC BẢN TIN NHẬP VIỆN 33

Bản tin đăng ký bệnh nhân – ADT/ACK (sự kiện A04) 33

2.4.1. Đoạn mào đầu bản tin (MSH – Message Header Segment) 34

2.4.2. Đoạn loại sự kiện (Event type segment – EVN) 40

2.4.3. Đoạn xác nhận bệnh nhân (Patient Identification segment – PID) 42

2.4.4. Đoạn thân nhân bệnh nhân (Next of kin / associated parties segment –
NK1) 51

2.4.5. Đoạn thông tin nhập viện (Patient Visit segment – PV1) 58

2.4.6. Đoạn thông tin chẩn đoán (Diagnosis segment – DG1) 63

2.4.7. Đoạn thông tin bảo hiểm (Insurance segment – IN1) 67

CHƯƠNG 3:

PHẦN THỰC HÀNH: CHƯƠNG TRÌNH MessageHL7 v1.0.1

3.1.

Giới thiệu chương trình “ĐỌC VÀ TẠO BẢN TIN HL7” 70

3.2.

Yêu cầu hệ thống 71

3.3.

Sử dụng chương trình 71

3.4.

Trợ giúp chương trình 74

3.5.

Bàn luận về chương trình 75

CHƯƠNG 4:

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN


iv
www.bme.vn
4.1.

Kết luận 77

4.2.

Khả năng và hướng phát triển 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC A – BẢNG HL7 VÀ NGƯỜI DÙNG ĐỊNH NGHĨA 80

PHỤ LỤC B – LOẠI BẢN TIN 98

PHỤ LỤC C – CÁC ĐOẠN CỦA BẢN TIN 101

PHỤ LỤC D – MÃ NGUỒN CHƯƠNG TRÌNH 105



v
CÁC TỪ VIẾT TẮT
VD Ví dụ



LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Mở đầu
Trong hệ thống thông tin y tế, đặc biệt là hệ thống thông tin bệnh viện, việc
lưu trữ những thông tin về bệnh nhân từ khi nhập viện đến khi xuất viện,
hay là nhập viện lại nhiều lần; những thông tin quản lý hoạt động trong
bệnh viện… thường xuyên xảy ra với dung lượng lưu trữ lớn. Việc lưu trữ
bằng sổ sách đã xuất hiện những bất cập như lượng thông tin lưu trữ quá
lớn, việc tìm kiếm khó khăn, đặc biệt là việc chia sẻ thông tin giữa các khoa
trong bệnh viện hoặc giữa các bệnh viện với nhau là hầu như chưa thực
hiện được. Chính vì vậy, các bệnh viện đã chuyển dần sang việc thu thập và
lưu trữ thông tin bằng máy tính. Tuy nhiên, việc định dạng cho những
thông tin điện tử này có nhiều khác nhau giữa các bệnh viện nên quá trình
chia sẻ thông tin gặp khó khăn. Do đó, năm 1987 một ủy ban gồm những
người sử dụng, những nhà cung cấp và những nhà tư vấn trong lĩnh vực này
đứng đầu là giáo sư Sam Schultz tại Bệnh viện trường Đại học
Pennsylvania Mỹ đã thống nhất và đưa ra một chuẩn chung cho khuôn dạng
dữ liệu dạng văn bản gọi là HL7 để thuận tiện cho việc chia sẻ thông tin
dạng văn bản này. Theo đó, một loạt các quy tắc mã hóa và giải mã dạng dữ
liệu văn bản được định nghĩa. Việc ứng dụng chuẩn dữ liệu này đã đem lại
nhiều lợi ích trong các hệ thống thông tin y tế, đặc biệt là lĩnh vực y tế từ
xa.
Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện
đang từng bước phát triển, điều này giúp truy cập thông tin nhanh, hỗ trợ
công tác chẩn đoán, thống kê và nghiên cứu khoa học của các chuyên khoa,
giảm thiểu tài liệu lưu trữ hàng năm cho hệ thống bệnh viện. Tuy nhiên vẫn
chưa có một chuẩn thống nhất chung nào dùng cho trao đổi dữ liệu văn bản
giữa các khoa, các bệnh viện. Trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay,

SVTH: VÕ THANH HOÀNG 1 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH
LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007

đặc biệt nước ta vừa gia nhập WTO, đòi hỏi cần có những hệ thống thông
tin y tế chuẩn hóa để có thể nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe cho
người dân, hòa nhập cùng với các hệ thống thông tin y tế tiên tiến của
những nước phát triển.
Do vậy, mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn được đề ra là:
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
Mục tiêu được đề ra của luận văn là khảo sát công năng và cấu trúc của tiêu
chuẩn định dạng bản tin thông tin y tế HL7 (phiên bản 2.3.1), trên cơ sở đó
thiết kế một chương trình phần mềm có chức năng quản lý hồ sơ bệnh nhân
theo chuẩn HL7 nhằm thử nghiệm khả năng ứng dụng trong công tác quản
lý bệnh viện hoặc cơ sở y tế.
Do nội dung của tiêu chuẩn rộng (trên 1200 trang toàn text) và nhiều chi
tiết phức hợp, từ thông tin văn bản về lý lịch bệnh nhân cho đến những liên
kết quản lý hình ảnh trong chẩn đoán và điều trị, liên kết với các cơ sở dữ
liệu về tài chính bảo hiểm v.v…, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu chuẩn
HL7 về cấu trúc bản tin Nhập viện của bệnh nhân. Cho nên, các nhiệm vụ
chính của luận văn được đề ra như sau:
- Khảo sát tổng quan về chuẩn định dạng bản tin thông tin y tế HL7 và sự
phát triển ứng dụng trong mạng thông tin y tế.
- Khảo sát cấu trúc dữ liệu về chuẩn định dạng bản tin thông tin y tế HL7.
- Thiết kế thử nghiệm phần mềm tạo, đọc và tìm kiếm danh sách bệnh
nhân theo chuẩn HL7 và xem xét khả năng ứng dụng thử nghiệm trong
công tác quản lý đầu vào bệnh nhân các cơ sở y tế.


SVTH: VÕ THANH HOÀNG 2 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH
LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007


CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2.1. Lịch sử chuẩn thông tin y tế HL7
Tương tự như người ta ở các nước khác nhau, có ngôn ngữ bản địa hoàn
toàn khác nhau chỉ có thể giao tiếp được với nhau nếu họ có thể nói một
ngôn ngữ chung, các ứng dụng máy tính chỉ có thể chia sẻ thông tin nếu
chúng giao tiếp với cùng một tài nguyên chung. Đối với người ta hay máy
tính để có thể chia sẽ dữ liệu với nhau, phải có:
a) các chức năng để có thể giao tiếp vật lý, VD như nói và nghe, gởi và
nhận tài liệu, tập tin dữ liệu, chia sẻ dữ liệu và thông tin. (Điều này được
gọi là "functional interoperability" (thao tác giữa các phần chức năng)).
b) Nói một ngôn ngữ chung (theo các thuật ngữ về danh từ, động từ, cấu
trúc ngữ pháp…) và chia sẻ cùng từ vựng mà cho phép chúng hiểu các
điều kiện và các quá trình xử lý y khoa phức tạp. (Đây được gọi là
"semantic interoperability" (thao tác giữa các phần ngữ nghĩa)).
Một nhóm các nhà sử dụng hệ thống máy tính y tế (những người sau đó
thiết lập tổ chức Health Level 7) vào năm 1987 bắt đầu phát triển tài
nguyên HL7 để tạo ra ngôn ngữ chung mà cho phép các ứng dụng y tế chia
sẻ dữ liệu lâm sàng với nhau. Theo thời gian tài nguyên hoạt động trung
gian HL7 trở thành chuẩn được công nhận cấp quốc gia, quốc tế và toàn
cầu.
HL7 là chữ viết tắt của tiêu chuẩn Health Level Seven (HL7), tiêu chuẩn
này định dạng văn bản dùng để trao đổi dữ liệu điện tử trong tất cả các môi
trường y tế. Ủy ban thành lập nên chuẩn HL7 được gọi là HL7 Working
Group. HL7 không chỉ phổ biến trong các tiểu bang nước Mỹ, mà nó đã lan
rộng ra nhiều nước khác như Úc, Nhật Bản, Đức, Hà Lan, New Zealand, và

SVTH: VÕ THANH HOÀNG 3 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH
LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007

Canada. Tại các nước này, nền y học và chăm sóc sức khỏe rất phát triển,
người ta đã chấp nhận sử dụng tiêu chuẩn HL7 như là một tiêu chuẩn duy
nhất trong trao đổi thông tin dạng văn bản trong y tế.
Sau phiên bản 2.2, HL7 cho xuất bản phiên bản 2.3 vào tháng 12 năm 1994.
Phiên bản 2.3 là kết quả của hơn hai năm làm việc và hàng ngàn giờ của
các thành viên hoạt động HL7 từ sau khi xuất bản phiên bản 2.2. Các thành
tựu chính của nó bao gồm việc duy trì được sự tương thích với phiên bản
2.2, sửa lỗi và mở rộng tiêu chuẩn.
HL7 được thiết kế phù hợp với các đòi hỏi của tiêu chuẩn ANSI (American
National Standards Institute - Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa kỳ), các tổ
chức tiêu chuẩn về bản tin trong công nghệ máy tính ở lĩnh vực y tế (ASTM
- American Society for Testing Materials). HL7 đang tham gia vào Ủy ban
tiêu chuẩn thông tin y tế của ANSI (ANSI’s Healthcare Informatics
Standards Board - HISB). Tháng 6 năm 1994, HL7 trở thành Tổ chức Phát
triển Tiêu chuẩn ANSI chính thức (ANSI Accredited Standards Developing
Organization). Phiên bản HL7 2.2 được ANSI công nhận chính thức năm
1996 và v2.3 được ANSI cấp giấy chứng nhận tháng 5 năm 1997. Phiên
bản 2.3.1 của HL7 đã được ANSI công nhận và là phiên bản 2.3 được công
bố rộng rãi.
Năm 2006, HL7 công bố chính thức xuất bản phiên bản HL7 v3.0. Đây là
một phiên bản mới của HL7 được cập nhật thêm nhiều phần, như bổ sung
phần Kiến trúc Tài liệu Lâm sàng (Clinical Documents Architecture), Mô
hình Thông tin Tham khảo (Reference Information Model - RIM) dùng
trong hệ thống thông tin y tế bao gồm: Đặc điểm Loại dữ liệu, Định dạng
dữ liệu XML, các Từ khóa điều khiển. Tuy nhiên, hiện tại chuẩn HL7
v2.3.1 vẫn đang thịnh hành và phổ biến nhiều nhất trên thế giới. Trong
tương lai không xa, người ta cũng sẽ dần chuyển sang chuẩn HL7 v3.0.

SVTH: VÕ THANH HOÀNG 4 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH
LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007

"Level Seven" ý nói đến cấp độ cao nhất của mô hình giao tiếp thông tin
của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO – International Standards
Organization) dành cho Sự kết nối trung gian của các hệ thống mở (OSI –
Open System Interconnection), đó là cấp ứng dụng. Cấp ứng dụng định
nghĩa dữ liệu được trao đổi, thời gian trao đổi và sự liên lạc của các lỗi xảy
ra cho ứng dụng. Cấp độ 7 hỗ trợ các chức năng như kiểm tra an ninh, định
danh tham gia, kiểm tra có sẵn, trao đổi vật lý và quan trọng nhất là cấu
trúc trao đổi dữ liệu. [2]







7 Application
6 Presentation
5 Session
4 Transport
3 Network
2 Data Link
1 Physical
Function
Communication
HL7
7 Layer ISO Communication Model
Thông tin thêm về mô hình 7 lớp của ISO tham khảo tại:
http://Webopedia.internet.com/quick_ref/OSI_Layers.asp
Nội dung của chuẩn HL7 bao gồm:
a) cấu trúc tổng thể của tất cả giao diện bao gồm giao diện truy vấn
chung
b) quản trị bệnh nhân (nhập viện, ra viện, chuyển tuyến và đăng ký)
c) danh mục chỉ định
d) hệ thống tính viện phí
e) dữ liệu theo dõi lâm sàng
f) một giao diện tổng quát cho việc đồng bộ hóa các tập tin tham khảo
chung (tập tin chủ)
g) quản trị thông tin y khoa
h) danh mục bệnh nhân, danh mục tài nguyên

SVTH: VÕ THANH HOÀNG 5 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH
LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007

i) các bản tin tham khảo của bệnh nhân dùng cho hội chẩn giữa 2 viện
khác nhau
j) các bản tin chăm sóc bệnh nhân hỗ trợ cho việc thông tin về các
chứng bệnh nan y, và cung cấp chức năng cách thức thực thi lâm
sàng trong hệ thống thông tin vi tính. [3]
2.2. Nguyên tắc mã hóa trong HL7
2.2.1. Nguyên tắc
Khuôn dạng bản tin quy định theo nguyên tắc mã hóa của HL7 gồm các
trường dữ liệu, các trường này có độ dài thay đổi và được ngăn cách bởi
một ký tự ngăn cách trường. Các nguyên tắc mô tả cách mã hóa của các
kiểu dữ liệu trong một trường được quy định riêng. Các trường dữ liệu
được kết hợp lại thành các nhóm logic được gọi là các đoạn. Các đoạn được
ngăn cách bởi các ký tự phân đoạn. Mỗi đoạn bắt đầu với một giá trị chữ 3
ký tự, giá trị này được nhận dạng trong một bản tin. Các đoạn có thể được
định nghĩa như yêu cầu hoặc tùy chọn và có thể cho phép được lặp lại. Các
trường dữ liệu riêng được tìm thấy trong bản tin bởi vị trí của chúng trong
các đoạn kết hợp.
Tất cả dữ liệu được biểu diễn như các ký tự hiển thị từ một ký tự đã chọn.
Bộ ký tự hiển thị mã ASCII (American Standard Code for Information
Interchange) là bộ ký tự mặc định trừ khi có sự thay đổi trong đoạn tiêu đề
MSH (Message Header Segment). Ký tự ngăn cách trường phải được chọn
từ sự thiết lập ký tự hiển thị mã ASCII. Tất cả dấu ngăn cách đặc biệt khác
và các ký tự đặc biệt cũng là các ký tự hiển thị, ngoại trừ ký tự phân đoạn là
ký tự mã ASCII Carriage Return (ký tự xuống dòng). [2]
2.2.2. Ví dụ về mã hóa và giải mã một bản tin HL7
Để hiểu hơn về cấu trúc của một bản tin HL7, chúng ta nghiên cứu một bản
tin HL7 điển hình như việc 1 bệnh nhân nhập viện sẽ bao gồm các đoạn
thông tin chính sau:

SVTH: VÕ THANH HOÀNG 6 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH
LVTN: NGHIÊN CỨU CHUẨN HL7 VÀ XÂY DỰNG CT ĐỌC BẢN TIN HL7

TRƯỜNG ĐH BK TP.HCM 2007

1. Đoạn mào đầu bản tin:
MSH||STORE|MISSION|MINE|LAUREL|199801181007|security|ADT|MSG0
0201|||<CR>
2. Đoạn loại sự kiện:
EVN|01|199801181005||<CR>
3. Đoạn xác nhận bệnh nhân:
PID|||PATID1234567||Doe^John^B^II||19470701|M||C|371 MAIN
AVE^SAN FRANCISCO^CA^94122-0619||45-681-2888||||||||<CR>
4. Đoạn thân nhân bệnh nhân:
NK1||Doe^Linda^E||wife|<CR>
5. Đoạn thông tin nhập viện:
PV1|1|I|100^345^01||||00135^SMITH^WILLIAM^K|||SUR|ADM|<CR>
Trên đây là toàn bộ phần thông tin đã được mã hóa theo tiêu chuẩn HL7.
Giải mã bản tin này, chúng ta sẽ lần lượt giải mã từng đoạn trong bản tin,
sau đó kết hợp lại ta thu được những thông tin sau:
Bệnh nhân John B. Doe, II, có mã bệnh nhân là 1234567, nam giới, da
trắng, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1947, sống tại 371 Avenue-Sanfrancisco,
nhập viện ngày 18 tháng 1 năm 1998 hồi 10 giờ 05 phút sáng, được bác
sĩ William K.Smith xét nghiệm và điều trị. Bệnh nhân được chỉ định nằm
viện tại giường số 01, phòng 345, tổ chăm sóc 100. Phần thân nhân có
vợ là Linda E.Doe, bản tin được gửi từ Mission tới Mine sau khi bệnh nhân
nhập viện 2 phút.
Dấu “|” dùng để phân cách giữa các trường dữ liệu, nếu không có trường dữ
liệu nó được coi như là trường trống. [1]
2.3. Các khái niệm cơ sở trong cấu trúc HL7
[2]

2.3.1. Sự kiện kích khởi (trigger event)
HL7 giả định rằng một sự kiện trong thế giới thực của chăm sóc sức khỏe
tạo ra nhu cầu cho dữ liệu để truyền giữa các hệ thống. Sự kiện thế giới

SVTH: VÕ THANH HOÀNG 7 GVHD: TS. HUỲNH QUANG LINH

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét