Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN LẤP VÒ
Xu hướng là giảm sử dụng nguồn vốn từ cấp trên, việc huy động vốn tại Chi nhánh tốt là nhờ vào các
dịch vụ như: ưu đãi các mức lãi suất cho khách hàng, dùng hình thức khuyến mãi tặng các sản phẩm
có giá trị, những dịch vụ chuyển tiền nhanh gọn, tạo niềm tin cho khách hàng khi gửi tiền vào Chi
nhánh ngày càng cao. Do vậy, khách hàng yên tâm khi gửi tiền vào Chi nhánh, làm cho vốn huy động
tại chỗ tăng lên đáng kể nên hạn chế sử dụng vốn cấp trên. Do vậy mà trong thời gian tới Chi nhánh
cần giữ vững nguồn vốn và thực hiện tốt hơn nữa các chính sách huy động vốn để từng bước hạn chế
sự lệ thuộc vào nguồn vốn của ngân hàng cấp trên. 19
Cho vay khác chủ yếu là cho vay đời sống và cho vay tiêu dùng đối với cán bộ, công nhân, viên chức
nhà nước, với mục đích cải thiện đời sống như mua xe gắn máy và mua sắm các phương tiện sinh hoạt
gia đình. Ngoài ra, họ cũng cần có nguồn vốn để làm kinh tế phụ, tăng thu nhập cho gia đình. Nhà
nước đã có chính sách hỗ trợ cho vay đối với cán bộ công chức nhà nước. Hình thức thu nợ gốc và lãi
đối với thành phần này là trừ vào lương hàng tháng. Bên cạnh đó, Chi nhánh còn cho vay xuất khẩu
lao động theo hợp đồng lao động của khách hàng vay vốn 22
Chỉ tiêu dư nợ phản ánh thực trạng hoạt động của Chi nhánh tại một thời điểm nhất định. Chỉ tiêu dư
nợ có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, nó nói lên số tiền mà
Chi nhánh còn phải thu từ khách hàng vay vốn. Nếu dư nợ cao gần bằng doanh số cho vay thì Chi
nhánh sẽ không đủ tiền để phát vay cho chu kỳ tiếp theo hay vòng vay vốn tín dụng bị chậm lại, dễ
dàng gây ra sự tắc nghẽn trong việc sử dụng vốn của Chi nhánh. Vì vậy, dư nợ tín dụng phản ánh một
cách thực tế và chính xác hơn về tốc độ tăng trưởng tín dụng, về tình hình cho vay, thu nợ. Dư nợ cho
vay còn phản ánh mức đầu tư vốn của Ngân hàng vào hoạt động tín dụng và liên quan trực tiếp đến
việc tạo ra lợi nhuận của Chi nhánh. 29
Nhìn chung, mức dư nợ của Chi nhánh trong trong 3 năm qua luôn tăng: năm 2005 tăng 29.259 triệu
đồng so với năm 2004, tốc độ tăng 14,07%; đến năm 2006 tăng 16.642 triệu đồng so với năm 2005,
tốc độ tăng 7.01%. 29
Dư nợ của thành phần kinh tế này liên tục tăng qua các năm. Năm 2005 tăng 4.540 triệu đồng so với
năm 2004 với tốc độ tăng 48,66%. Đến năm 2006 dư nợ của doanh nghiệp tư nhân tiếp tục tăng 2.090
triệu đồng so với năm 2005 với tốc độ tăng 15,07%. Doanh số dư nợ phụ thuộc hoàn toàn vào doanh
số cho vay và tốc độ thành lập các doanh nghiệp tư nhân trong những năm gần đây rất nhanh. Bên
cạnh đó, vào thời điểm cuối năm nhu cầu của các doanh nghiệp làm thương mại dịch vụ, các doanh
nghiệp sản xuất mặt hàng phục vụ Tết khá lớn. Tuy nhiên, đầu tư vào thành phần kinh tế này rủi ro
thường cao, vì vậy Chi nhánh cũng cần phải tăng cường quản lý các món vay này. Nguyên nhân là đa
phần họ sản xuất tự phát, theo mùa vụ, ít có kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể và sổ sách kế toán
thường kém minh bạch, không đầy đủ. Ngân hàng khó đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của loại
hình kinh tế này 30
Hộ sản xuất kinh doanh 30
Trong cơ cấu dư nợ của Chi nhánh, dư nợ theo hộ sản xuất kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất.
Ngày nay, khi đất nước ngày càng phát triển, đời sống của người dân cần được cải thiện hơn nên chỉ
tiêu dư nợ theo thành phần kinh tế này được Chi nhánh chú trọng nhiều nhất so với các lĩnh vực khác
thông qua doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ. 30
Kết quả dư nợ theo hộ sản xuất kinh doanh trong 3 năm qua tương đối ổn định. Năm 2005 tăng 23.161
triệu đồng so với năm 2004 với tốc độ tăng 14,88%. Qua năm 2006 dư nợ theo thành phần kinh tế
tiếp tục tăng 11.246 triệu đồng so với năm 2005 với tốc độ tăng 6,29%. Nguyên nhân dư nợ đối với hộ
sản xuất kinh doanh tăng là do nền kinh tế phát triển nên người dân nâng cao việc sản xuất kinh doanh
để có nguồn thu nhập khá hơn. Muốn mở rộng và nâng cao việc sản xuất kinh doanh thì tất yếu phải
cần vốn. Chi nhánh đã đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ nông dân nên mức dư nợ ngày càng tăng cao 30
Dư nợ khác 30
Năm 2005 mức dư nợ theo thành phần kinh tế khác tăng 1.558 triệu đồng so với năm 2004 với tốc độ
tăng 3,62%. Đến năm 2006 dư nợ theo thành phần kinh tế này đạt 47.852 triệu đồng tăng 3.306 triệu
đồng so với năm 2005 với tốc độ tăng 7,42%. Mức dư nợ theo thành phần kinh tế khác liện tục tăng
trong ba năm qua là do cả dư nợ trong hạn và dư nợ quá hạn đều tăng . Dư nợ ngành này tăng liên tục
qua ba năm cho thấy tình hình tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện có bước
phát triển, người dân đã mạnh dạn đầu tư mở rộng các ngành nghề truyền thống cũng như các hoạt
động dịch vụ phục vụ đời sống ngày càng tốt hơn, mặt khác nó còn thể hiện sự tích cực của ban lãnh
đạo Ngân hàng trong việc thâm nhập thị trường mở rộng qui mô tín dụng 30
Dư nợ ngắn hạn 31
Giống như doanh số cho vay và doanh số thu nợ trong ngắn hạn, dư nợ trong ngắn hạn chiếm tỷ trọng
cao trong tổng dư nợ của Chi nhánh. 31
Tỷ trọng trung bình của doanh số dư nợ ngắn hạn trong ba năm qua là 88,93% và tốc độ tăng doanh số
dư nợ ngắn hạn bình quân trong ba năm qua là 15,12%. Mặc dù, tốc độ tăng chậm nhưng tỷ trọng cao
nên sự gia tăng về số tuyệt đối hàng năm là cao. Năm 2005 mức dư nợ ngắn hạn tăng 37.534 triệu
đồng so với năm 2004 với tốc độ tăng 21,28%. Đến năm 2006 doanh số dư nợ ngắn hạn tăng 19.192
triệu đồng tương đương tăng 8,97% so với năm 2005. Trong những năm gần đây tình hình sản xuất
kinh doanh trong tỉnh diễn ra sôi động, nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng tăng và hội đủ
điều kiện vay vốn nên đã được Chi nhánh đáp ứng. Dư nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao, liên tục
tăng lên qua các năm. Do đặc điểm kinh tế chủ yếu của huyện là sản xuất nông nghiệp, chu kỳ vốn tối
đa là một năm. Các hoạt động thương mại dịch vụ khác cũng gần như đi theo chu kỳ sản xuất của
nông dân. Do năm bắt được đặc điểm tình hình trên nên trong những năm qua Chi nhánh đã tập trung
cho vay vốn ngắn hạn. 31
Doanh số dư nợ trung – dài hạn 31
Ngược lại với xu hướng của dư nợ ngắn hạn, dư nợ trung - dài hạn có xu hướng giảm xuống. Năm
2005 doanh số dư nợ trung – dài hạn giảm 8.275 triệu đồng tương đương 26,19% so năm 2004. Đến
năm 2006 dư nợ trung hạn giảm 2.550 triệu đồng, tương đương 10,94% so năm 2005. Cho vay trung -
dài hạn lãi suất cao nhưng rủi ro cao. Ngoài ra nguồn vốn huy động của Chi nhánh chủ yếu là vốn
ngắn hạn. Vì vậy mà trong hai năm trở lại đây, Chi nhánh có phần dè dặt hơn trong việc xét duyệt cho
vay trung – dài hạn. Doanh số cho vay trung – dài hạn tăng chậm nhưng nợ quá hạn trung dài hạn lại
tăng nhanh nên mức dư nợ giảm xuống (tốc độ giảm dư nợ trung – dài hạn trung bình trong ba năm
qua là 11,07%) 31
Qua biểu đồ trên cho thấy, năm 2004 tổng nợ quá hạn ngắn hạn chỉ chiếm 519 triệu đồng, chiếm tỷ
trọng 79,60% nhưng đến năm 2005 nợ quá hạn ngắn hạn đã tăng lên đến 697 triệu đồng, tức tăng
thêm 178 triệu đồng với tốc độ tăng 34,30% so với năm 2004. Đến năm 2006 nợ quá hạn ngắn hạn lên
đến 1.436 triệu đồng, tăng 739 triệu đồng so với năm 2005 với tốc độ tăng rất nhanh 106,03%. Một
Phần, nguyên nhân là do thị trường ba năm qua không ổn định, ngành thương mại và dịch vụ có nhiều
biến động, nhất là biến động về giá cả làm cho các đơn vị gặp nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh
bị thua lỗ. Mặt khác, do các đơn vị thanh toán tiền với nhau chậm hoặc trả gối đầu nên các đơn vị này
không có nguồn trả nợ cho Chi nhánh khi đến hạn, các đơn vị kinh tế chậm trễ trong việc xin gia hạn
nợ hoặc đã gia hạn nhiều lần thì Ngân hàng buộc phải chuyển sang nợ quá hạn. Tuy nhiên, nợ quá hạn
tăng một phần cũng là do khoản nợ của nhiều năm trước chưa thu hồi hết còn tồn động lại đến năm
2006. Bên cạnh đó, cũng kể đến nguyên nhân do khách hàng thay vì sử dụng nguồn tiền thu được để
trả nợ thì lại sử dụng vào mục đích khác, cố ý kéo dài thời gian trả nợ 34
Phần nợ quá hạn trung -dài hạn cũng có nhiều biến động, nhưng tỷ trọng luôn thấp hơn nhiều lần so
với nợ quá hạn ngắn hạn. Năm 2004 nợ quá hạn trung- dài chỉ chiếm 133 triệu đồng, năm 2005 lên
đến 190 triệu đồng, tăng 57 triệu đồng so với năm 2004 với tốc độ tăng 42,86%. Năm 2006 là 437
triệu đồng, tăng 274 triệu đồng so với năm 2005 với tốc độ tăng cực nhanh 130%. Nguyên nhân là do
nền kinh tế địa phương trong năm này có nhiều biến động, một số đơn vị kinh doanh không đạt hiệu
quả nên không có nguồn thu để trả nợ cho Ngân hàng khi đến hạn. Mặt khác, năm 2005, 2006 thiên
tai, thất mùa, dịch bệnh nên người dân không có nguồn vốn để trả nợ làm cho nợ quá hạn năm 2006
tăng đột biến. 35
Qua bảng kết quả hoạt động của Chi nhánh ta thấy nợ quá hạn của Chi nhánh đang biến động theo
chiều tăng nhưng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ còn ở mức thấp. Năm 2004 tỷ lệ nợ quá hạn trên
tổng dư nợ là 0,29% và năm 2005 là 0,36% tăng so với năm 2004 là 0,07%. Đến năm 2006 tỷ lệ này
là 0,72% tăng so với năm 2005 là 0,36% nhưng vẫn còn ở mức thấp và dưới mức cho phép của Ngân
hàng Nhà nước là 3%. Có được kết quả này là do Ngân hàng đã đề ra các giải pháp hữu hiệu để xử lý
từng món nợ, gắn xử lý tồn động nợ cũ với việc tăng cường kiểm tra, kiểm tra chặt chẽ trước, trong và
sau khi phát sinh nghiệp vụ cho vay và triệt để thực hiện những giải pháp này, nhằm hạn chế tỷ lệ nợ
quá hạn một cách tốt nhất. 36
Bên cạnh đó được sự quan tâm chỉ đạo của Nhà nước đã tạo được hành lang pháp lý cho Ngân hàng,
nhằm xử lý triệt để những món nợ quá hạn trên 12 tháng do khách hàng cố ý không trả nợ. Mặt khác,
nhờ vào sự phấn đấu vượt bậc của ban lãnh đạo đã đề ra các giải pháp hữu hiệu cùng toàn thể cán bộ
công nhân viên của Chi nhánh thực hiện tốt giải pháp này, với kết quả trên Chi nhánh không những
thu được lợi nhuận cho mình qua từng năm hoạt động mà còn góp phần vào việc giải quyết các vấn đề
xã hội và làm bước đệm cho việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế trong toàn huyện 36
Tóm lại, qua quá trình phân tích cho thấy hoạt đông tín dụng tại Chi nhánh trong thời gian qua có
nhiều chuyển biến tốt đẹp, qui mô tín dụng ngày càng được mở rộng, chất lượng nghiệp vụ tín dụng
luôn được đảm bảo. Tuy nhiên, tổng nợ quá hạn cũng như tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ có xu
hướng tăng lên. Điều này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tín dụng cần phải xem xét chặt chẽ hơn công tác
thẩm định, cho vay, thu nợ, cũng như việc sử dụng vốn vay của khách hàng để đảm bảo tỷ lệ nợ quá
hạn phù hợp với mục tiêu của Chi nhánh là ngày càng giảm nợ quá hạn, đồng thời nâng cao chất
lượng nghiệp vụ tín dụng của Chi nhánh. Bên cạnh đó, trong thời gian tới Chi nhánh cần tiếp tục phát
huy hơn nữa điểm mạnh của mình để huy động vốn, cho vay trong lĩnh vực ngắn hạn cũng như tìm
các biện pháp mở rộng hoạt động dịch vụ để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Chi nhánh. . 36
Chiến lược khách hàng 37
Khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại phát triển của Chi nhánh. Hoạt động của Chi nhánh đạt
hiệu quả thì tất yếu chi nhánh sẽ mở rộng quy mô, chất lượng kinh doanh của mình. Vì vậy Ngân hàng
luôn đổi mới phương thức chiến lược, chính sách, kế hoạch trong từng thời kỳ để phù hợp với nền
kinh tế thị trường, với quy luật cạnh tranh và phát huy địa bàn hoạt động của mình nhằm duy trì khách
hàng cũ và thu hút khách hàng mới 37
Nhân các ngày lễ lớn, hoặc nhân ngày sinh nhật của các khách hàng lớn và có uy tín cao, Chi nhánh
nên gửi tặng phẩm có giá trị cho khách hàng. Việc làm này gây được nhiều thiện cảm với khách hàng,
từ đó khách hàng sẽ quan tâm và có cái nhìn thiện cảm hơn đối với Chi nhánh. Thông qua việc làm
này Chi nhánh sẽ có thêm nhiều khách hàng mới 37
Hàng năm, Chi nhánh nên tổ chức các ngày Hội nghị khách hàng theo từng nhóm khách hàng để giới
thiệu hoạt động của Chi nhánh theo từng chủ đề. Qua đó giúp khách hàng nắm bắt được từng nội
dung, kế hoạch hoạt động và phát triển của Chi nhánh trong tương lai. Đồng thời Chi nhánh cũng nắm
bắt được tâm tư, nguyện vọng của khách hàng đối với Chi nhánh để kịp thời điều chỉnh và phục vụ tốt
hơn. 37
Phân tích nghiệp vụ tín dụng tại NHNo & PTNT huyện Lấp Vò vừa cho thấy được hiệu quả hoạt động
của Ngân hàng vừa thấy được vai trò và sự góp phần của Ngân hàng vào sự phát triển của nền kinh tế
xã hội. Qua phân tích cho thấy công tác huy động vốn trên địa bàn tuy gặp nhiều khó nhưng nguồn
vốn huy động luôn đạt kết quả tốt và có chiều hướng tăng lên đáng kể. Điều này thể hiện qua lượng
tiền gửi trong dân cư, dư nợ cho vay và lợi nhuận liên tục tăng lên qua các năm. Đạt được kết quả khả
quan như vậy chính là nhờ sự chỉ đạo sáng suốt nhạy bén của Ban lãnh đạo, các đoàn thể công nhân
viên. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ tín dụng đã tích cực làm việc nhằm giúp cho Chi nhánh tháo gỡ
những vướng mắc để tăng doanh số cho vay và thu nợ qua các năm. Mặc dù, nợ quá hạn tăng qua các
năm nhưng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ luôn ở mức tỷ lệ thấp nằm trong giới hạn cho phép.
Lượng vốn huy động tại chỗ chỉ đáp ứng một phần nhu cầu của khách hàng, phần còn lại vẫn phải sử
dụng nguồn vốn điều chuyển. Mặc dù vậy, mục tiêu phấn đấu của Chi nhánh là huy động tối đa lượng
tiền nhàn rỗi trong dân cư bằng nhiều hình thức, với nhiều mức lãi suất hấp dẫn góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động huy động vốn và độ tin cậy đối với người dân, đồng thời giảm thiểu vay vốn từ
Ngân hàng cấp trên. 39
Khách hàng của Chi nhánh chủ yếu là các hộ gia đình, sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ nhưng có số lượng
đông nhất. Doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ và ngay cả nợ quá hạn của Chi nhánh hầu như tập trung
vào đối tượng này nhiều nhất. Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế nông nghiệp của huyện có
nhiều chuyển biến tích cực. Nhờ vào nguồn vốn của Ngân hàng, khách hàng có điều kiện mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh, từng bước nâng cao đời sống gia đình. Mặc dù kết quả đạt được là như
vậy, nhưng hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng luôn tìm ẩn những rủi ro. Cũng như các Ngân hàng
khác trên địa bàn, NHNo & PTNT chi nhánh huyện Lấp vò vẫn không tránh khỏi nguy cơ không thu
được nợ, xác suất khách hàng không trả được nợ gốc và lãi khi đến hạn vẫn còn cao. Tuy nhiên, Chi
nhánh không thể khuất phục trước những rủi ro mà phải luôn đối mặt và có những giải pháp phòng
ngừa, giảm thiểu nguy cơ xảy ra rủi ro, nhằm giảm thiểu tổn thất. Ngoài nguyên nhân bất khả kháng
gây ra rủi ro trong sản xuất nông nghiệp như ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, dịch bệnh dẫn đến nợ
quá hạn của khách hàng, vẫn còn nguyên nhân chủ qua từ phía Ngân hàng mà Ban lãnh đạo có thể
kiểm soát được. 40
Qua phân tích hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT chi nhánh huyện Lấp Vò, có một số kiến nghị
nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng 40
Hiện nay, Ngân hàng đang gặp tình trạng: một số cán bộ trẻ khỏe, nhiệt tình, năng nỗ trong công việc
nhưng lại thiếu kinh nghiệm, trong khi cán bộ có nhiều năm kinh nghiệm nhưng lại lớn tuổi và hơi bị
thụ động trong công việc. Vì vậy, trong thời gian tới Chi nhánh cần đẩy mạnh hơn nữa công tác đào
tạo, thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng, nâng cao năng lực, phẩm
chất và xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên có đầy đủ trình độ chuyên môn cao hơn nữa để hoàn
thành tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao. 40
Để kính thích tinh thần làm việc của nhân viên nhằm mang lại hiệu quả công việc ngày càng cao, Ban
lãnh đạo Ngân hàng nên thường xuyên tổ chức linh hoạt phong trào vừa thi đua, khen thưởng vừa kết
hợp với hình thức xử phạt. . 40
Ban lãnh đạo nên kiến nghị với Ngân hàng cấp trên phân bổ thêm cán bộ về hoặc tuyển dụng thêm từ
hai đến ba nhân viên để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Từ
đó sẽ giãm được tình trạng quá tải trong công việc đối với nhân viên phòng tín dụng và phòng kế toán.
40
Hiện nay, Chi nhánh chỉ mới thành lập một phòng giao dịch ở xã Tân Mỹ và một tổ cho vay lưu động
ở xã Vĩnh Thạnh. Ban lãnh đạo Chi nhánh có thể nghiên cứu nhân rộng mô hình trên về các xã vùng
xa khác như Định An, Long Hưng…để phục vụ tốt hơn cho khách hàng. Bởi vì những xã này ở quá xa
Ngân hàng nên việc đi lại của bà con gặp rất nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa, hơn nữa Ngân
hàng có điều kiện để mở rộng đầu tư tín dụng 40
Mục lục biểu bảng
Trang
Bảng 1: Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động: 35
Mục lục biểu đồ
Biểu đồ 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm 12
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu nguồn vốn. 17
Biểu đồ 4.2: Tình hình huy động vốn 18
Biểu đồ 4.3: Doanh số cho vay qua 3 năm 20
Biểu đồ 4.4: Doanh số cho vay theo DNTN 21
Biểu đồ 4.5: Doanh số cho vay theo HSXKD 22
Biểu đồ 4.6: Doanh số cho vay theo TPKT khác 22
Biểu đồ 4.7: Doanh số cho vay theo thể loại cho vay 23
Biểu đồ 4.8: Doanh số thu nợ qua ba năm 24
Biểu đồ 4.9: Chênh lệch giữa DSCV và DSTN của DNTN 25
Biểu đồ 4.10: Chênh lệch giữa doanh số cho vay và thu nợ theo hộ SXKD 26
Biểu đồ 4.11: Chênh lệch giữa doanh số cho vay và thu nợ theo TPKT khác 27
Biểu đồ 4.12: Doanh số thu nợ theo thể loại cho vay 27
Biểu đồ 4.13 : Chênh lệch giữa DSCV và DSTN trong ngắn hạn 28
Biểu đồ 4.14: Chênh lệch giữa doanh số cho vay và thu nợ trung dài hạn 28
Biểu đồ 4.15 : Tình hình dư nợ qua ba năm 29
Biểu đồ 4.16: Dư nợ theo thành phần kinh tế 30
Biểu đồ 4.17 : Dư nợ theo thể loại cho vay. 31
Biểu đồ 4.18: Tình hình nợ quá hạn qua ba năm 32
Biểu đồ 4.19 : Tình hình nợ quá hạn theo TPKT 33
Biểu đồ 4.20 : Tình hình nợ quá hạn theo thể loại cho vay 34
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân.
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long.
HSXKD: Hộ sản xuất kinh doanh.
NHNo & PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.
TCKT: Tổ chức kinh tế.
Tổng NV: Tổng nguồn vốn.
Vốn ĐH: Vốn điều hòa.
Vốn HĐ: Vốn huy động.
Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT huyện Lấp Vò.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong tiến trình phát triển kinh tế của đất nước cùng với sự hòa nhập vào nền
kinh tế thới giới. Nền kinh tế của Việt Nam đạt được thành quả như hiện nay
không thể không kể đến sự đóng góp của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ở bất cứ
quốc gia nào cũng vậy, hệ thống ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế, nền sản
xuất ngày càng phát triển hệ thống ngân hàng càng trở nên quan trọng. Hệ thống
ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế, là chiếc cầu nối giữa
nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn. Trong đó, Việt Nam là một nước có hơn 80% dân
số sống bằng nghề nông, vì vậy hoạt động của hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam
là rất cần thiết.
Không như các loại sản phẩm khác, sản phẩm chính của ngân hàng là tiền tệ.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng không chỉ tạo ra lợi nhuận cho chính
bản thân ngân hàng mà còn tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác ăn nên
làm ra, từ đó mà góp phần tạo nên bộ mặt kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Do
đó, để ngân hàng hoạt động thuận lợi và có lợi nhuận thì trước hết phải nói đến
nguồn vốn. Để có vốn kinh doanh ngoài việc phải sử dụng vốn điều hòa từ ngân
hàng cấp trên thì bản thân ngân hàng phải huy động vốn và kinh doanh nguồn vốn
bằng hình thức cho vay. Huy động vốn và cho vay vốn là hai mảng song song
không những quyết định vấn đề sống còn của ngân hàng mà còn thúc đẩy các
ngành kinh tế phát triển. Như vậy, làm thế nào để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả,
làm thế nào để bổ sung nguồn vốn kịp thời cho các thành phần kinh tế, đây là
những câu hỏi luôn được đặt ra cho các nhà lãnh đạo, làm sao để tương xứng với
tên gọi “NHNo & PTNT”.
Hòa chung với sự phát triển của hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam, NHNo
& PTNT Chi nhánh huyện Lấp Vò đã và đang cố gắng để đáp ứng kịp thời yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đáp ứng nguồn vốn kịp thời cho các
thành phần kinh tế, đặc biệt là nông dân trên địa bàn huyện phát triển sản xuất và
cải thiện đời sống. Đồng thời, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng là điều mà tập thể
cán bộ, nhân viên ngân hàng luôn luôn quan tâm. Chính vì những lý do trên mà tôi
chọn đề tài “phân tích tình hình hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh
huyện Lấp Vò” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
* Phân tích tình hình huy động vốn và tình hình cho vay của Chi nhánh nhằm
đánh giá sơ bộ tình hình hoạt động của Chi nhánh qua 3 năm.
* Đánh giá hiệu quả hoạt động của Chi nhánh qua hệ thống chỉ tiêu đo lường
hiệu quả hoạt động Ngân hàng.
* Tìm hiểu nguyên nhân khó khăn trong thu nợ, kéo dài nợ quá hạn của khách
hàng, từ đó đề xuất biện pháp để nâng cao hiệu quả huy động vốn hạn chế nợ
quá hạn.
SVTH: Nguyễn Thị Đây
Trang 1
Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT huyện Lấp Vò.
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nguồn số liệu chủ yếu là số liệu thứ cấp được thu thập trực tiếp từ phòng kế
toán của NHNo & PTNT Chi nhánh huyện Lấp Vò.
- Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp, so sánh số liệu tương đối và tuyệt đối.
- Tham khảo sách báo và đề tài của các anh chị khóa trước trong lĩnh vực ngân
hàng.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Hoạt động của NHNo & PTNT Chi nhánh huyện Lấp Vò rất đa dạng và
phong phú với rất nhiều hình thức và dịch vụ khác nhau. Nhưng đề tài này chỉ tập
trung phân tích hoạt động huy động vốn và cho vay của Chi nhánh qua 3 năm:
2004, 2005 và 2006.
SVTH: Nguyễn Thị Đây
Trang 2
Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT huyện Lấp Vò.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
2.1.1 Tiền gửi khách hàng
• Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán)
Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào mà không cần báo trước với ngân hàng và ngân hàng phải đáp ứng
yêu cầu đó của khách hàng, khách hàng cũng có thể ký séc để thanh toán nên còn
gọi là tài khoản giao dịch.
Khách hàng gửi tiền thanh toán nhằm mục đích an toàn về tài sản và không
vì mục đích sinh lợi. Nguồn tiền gửi thanh toán không ổn định nên khi hoạt động
ngân hàng phải có một khoản dự trữ thích đáng.
• Tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi định kỳ)
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ được rút ra sau một
khoảng thời gian nhất định, trong suốt thời gian đó khách hàng không được buộc
ngân hàng trả tiền lại cho mình. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền khi
đến hạn. Tuy nhiên, do tính cạnh tranh và khuyến khích khách hàng gửi tiền nên
ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện khách hàng không
được hưởng lãi suất hoặc được hưởng lãi suất thấp hơn mức lãi suất có kỳ hạn.
Điều này phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng và loại tiền gửi
định kỳ.
Đối với tiền gửi có kỳ hạn ngân hàng biết trước thời gian đến hạn nên ngân
hàng chủ động được nguồn vốn trong các thời kỳ để có kế hoạch cho vay. Vì vậy,
nguồn vốn này được sử dụng rất hiệu quả.
2.1.2 Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng
thì được ngân hàng cấp cho một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm. Khách hàng có trách
nhiệm quản lý và mang theo sổ khi đến ngân hàng giao dịch. Đây cũng là nguồn
vốn huy động có tính ổn định của ngân hàng.
• Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào mà
không cần báo trước với ngân hàng. Đối tượng gửi chủ yếu là những người tiết
kiệm, dành dụm hầu trang trải những chi tiêu cần thiết, đồng thời có một khoản lãi
góp phần vào việc chi tiêu hàng tháng. Ngoài ra, đối tượng gửi tiền có thể là những
người thừa tiền nhàn rỗi muốn gửi tiền vào ngân hàng để thu lợi tức đồng thời bảo
đảm an toàn hơn giữ tiền tại nhà.
• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Đây là loại hình mà khách hàng gửi tiền có sự thuận về thời gian với ngân
hàng, khách hàng chỉ rút tiền khi đến thời hạn. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
lớn hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
SVTH: Nguyễn Thị Đây
Trang 3
Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT huyện Lấp Vò.
2.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
2.2.1 Khái niệm chung về tín dụng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện
vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ
trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm trên thể hiện ở 3 đặc điểm cơ bản, nếu thiếu một trong 3 đặc điểm
đó thì sẽ không còn là phạm trù tín dụng.
- Có sự chuyển giao một lượng giá trị quyền sử dụng từ người này sang người
khác
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một
lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
2.2.2 Các hình thức tín dụng
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng có: tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng có: tìn dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố
định.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn có: tín dụng vốn sản xuất và lưu thông hàng
hóa, tín dụng tiêu dùng.
- Căn cứ vào chủ thể tín dụng có: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín
dụng nhà nước.
2.2.3 Đối tượng cho vay
- Cho vay ngắn hạn bao gồm các khoản vay sau đây:
• Giá trị vật tư, chi phí trồng trọt, chăn nuôi như hạt giống, con giống, thức
ăn gia súc, thuốc, dịch vụ thú y, vật liệu xây dựng…
- Cho vay trung hạn gồm những khoản sau:
• Chi phí cây trồng lưu gốc.
• Thanh toán chi phí mở rộng diện tích canh tác, xây dựng cơ bản đồng
ruộng để gieo trồng cây hàng năm.
• Chi phí xây dựng chuồng trại và chăn nuôi.
• Chi phí mua sắm nông cơ.
•
2.2.4 Nguyên tắc vay vốn
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng.
- Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện theo qui định của chính phủ.
SVTH: Nguyễn Thị Đây
Trang 4
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét