Tiểu luận triết
tưtưởng lấy nhân nghĩa để giữ vững sự tồn tại chung và khai sáng hệ tư tưởng
gọi là phái nho giáo đã tạo ra ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc nói
riêng và xã hội Phương Đông nói chung.
Những tư tưởng chính của nho giáo đựơc các học trò của Khổng Tử phát
triển và lưu truyền tới các thế hệ sau, nóđược thể hiện qua các phương diện
sau:
Về vũ trụ và giới tự nhiên: Khổng Tử tin có trời. Nhưng đối với ông, trời
cóý chí, ý trời là thiên mệnh không thể thay đổi được, không thể cải được
mệnh trời. Ông gộp trời đất vào một thể. Quan điểm này được thể hiện đầy đủ
rõ ràng và bao quát bằng từ dich. Đối với quỷ thần ông có tư tưởng thiếu nhất
quán. Đến các thế hệ học trò của ông trừ Tuân Tử tư tưởng thiên mệnh được
củng cố và khẳng định và là tư tưởng cơ bản của nho giáo chi phối các tư
tưởng khác.
Vềđạo đức: đạo theo nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hoácủa trời
đất, muôn vật. đạo của người chính là nhân nghĩa. Nhân là lòng thương người,
nghĩa là dạ thuỷ chung. Nho giáo đặc biệt quan tâm đến vấn đềđao đức của
con người.Đức gắn chặt với đạo, từđức trong quan đỉêm của nho giáo thường
được dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong
tâm hồn ý thức. Nội dung cơ bản của đạo đức cua nho giáo chính là luân
thường. Có năm luân cơ bản là:cha -con, vua-tôi, anh-em, vợ- chồng, bè-
ban.trong đó ba điều chính làvua tôi, cha con , vợ chồng gọi là tam cương.
Đặc biệt quan trọng là quan hệ vua tôi bíểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha
con được biểu hiện bằng chữ hiếu. Thường có năm điều chính gọi là ngũ
thường đều là những đức tính trời phú cho con người: nhân ,nghĩa, lễ, trí , tín.
Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa. Đạo của Khổng Tử trước hết làđạo nhân
nghĩa thì nhân là chủđạo.
Về chính trị xã hội, một xã hội không loạn lạc cũng là xã hội có trật tự,
không lộn xộn. chính vì thế nên ông tổ Nho giáo đã mong ước lập một tổ
chức xã hội màởđó có trên có dưới phân minh phổ biến thìđó là trật tự danh vị
5
Tiểu luận triết
của thuyết chính danh. chính danh là danh và thực phải phù hợp với nhau.
Danh và phận của mỗi người, trước hết do các mối quan hệ quy định. Theo
ông mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệmvà bổn phận mà mỗi cá
nhân mang cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận phù hợp với cái danh
đó. Ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương dùng thuyết lễ trịđểđưa ra cách trị
nước an dân.
Về nhân thức luận: Khổng Tử quan tâm tới giáo dục vì theo ông giáo dục
để cải tạo nhân tính của con người.
1.3, Sự du nhập và phát triển của nho giáo vào Việt Nam.
Nho giáo du nhập vào Việt Namở thời kì Bắc thuộcqua ba thời kì như
nhau:
-111 trước công nguyên-39: các đời Tây Hán vàĐông Hán.
-43-544: các đời Đông Hán, Tam Quốc, Tấn, Nam Bắc Triều.
-603-939: các đời TuỳĐường, Ngũ Quý.
Mười thế kỉđầu công nguyên nho giáo du nhậpvào Việt Nam nhưng chưa
thịnh, chưa hình thành tầng lớp nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội
Thành phần trí thức lúc bấy giờ là những nhà tu, đặc biêt là các cao tăng.
Thông qua việc học chữ nho đểđọc kinh phật, cac sư tiếp thu luôn nho học.
Thế nên khi đất nước vừa độc lập, kể từ(839-965), Đinh (968-979) Lê(980-
1009) trí thức tài ra giúp triều đình là các đạo sĩ và thiền sư. Một số thiền sư
có công dạy các tục gia đệ tử trở thành nhân tài đất nước như sư Khánh Vân
và sư Vạn Hạnh lần lượt là thầy dạy Lý Công Uốn…
Nho học Việt Nam phát triển từ thế kỷ XI, sang đời Nguyễn thì suy. Nho
học mởđường xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử nhờđó thúc đẩy văn học
phát triển, văn hoáđược nâng cao. Không ít tiền nho Việt Nam là tác gia, đi
sâu vào triết Nho. Nhưng chiến tranh liên miên, sách vở bị cướp , đốt mất quá
6
Tiểu luận triết
nhiều, tư tưởng học thuật của nho gia Việt Nam hầu như khôngcòn lưu lại gì
cho đời sau nghiên cứu. Nói đến nho giáo Việt Nam cái nổi bật không phải là
tư tưởng triết học, mà lại là văn chương, khoa cử, và vai trò chính trị của sĩ tử
trong lịch sử.
Nho học Việt Nam qua các triều đại.
Đời Lý(1010-1225).
Nho học mới hưng phát. Vua Lý Thánh Tông cho lập văn miếu, làm tượng
thờChu công, Khổng Tử, bảy mươi hai tiên hiền. Vua Lý Nhân Tông mở khoa
thi đầu tiên tên là Tam Trường, Lê Văn Thịnh đậu thủ khoa, mở quốc tử
giám, lập hàn lâm viện, tuyển Mạc Hiến Tích làm hàn lâm học sĩ.
Đời Trần.
Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh, khoa tam giáo và mở khoa
tam khôi tuýển trạng nguyên, bảng nhãn, thàm hoa. Khoa ấy Lê Văn Hưu đổ
bảng nhãn, là sử gia Việt Nam đầu tiên, tác giảĐại Việt sử kí. Vua còn mở
quốc học viện giảng Tứ thư, Ngũ kinh.
Văn học đời Trần rất thịnh, nhờ khoa cử thúc đẩy. Có rất nhiều tác phẩm
văn học thời kỉ này có giá trị lịch sửđể lại cho thế hệ sau. Danh nho có Mạc
Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn(viết giới hiên toàn tập). Chu Văn An…
Đời Hồ(1400-1407), hậuTrần(1407-1413), Minh thuộc(1414-1427).
Lê Quý Ly thay nhà Trần, lập nên nhà Hồ. Nước loạn, quân Minh xâm
lăng, cướp nước, những gì không đem được thìđốt , thiệt hại không kể xiết.
Nhà Minh đưa Tống Nho vào Việt Nam.
Đời Hậu Lê (1428- 1788).
7
Tiểu luận triết
Nho học rất được chú trọng, được tôn là quốc học. Khoa cử thúc đẩy,
hình thành tầng lớp nho sĩ trí thức đông đảo. Kinh đô có quốc tử giám, thái
học viện. Vua Lê Thánh Tông chia nước làm mười ba đạo, hầu hết các đạo
ởđồng bằng đều lập trường công, ấn định quy chế thi cử. Năm1463 có
chừng1400 người thi Hội ở Thăng Long, năm 1475 tăng lên khoảng 3000 thí
sinh. Từ triều Lê, người thi đậu rất vẻ vang : có lễ xướng danh, lễ vinh quy, lễ
khắc tên tiến sĩ vào bia đáở Văn miếu.
Ở nước ta, nho giáo có lịch sử rất lâu đời. Từ khi bị xãm lược và sát nhập
vào Trung Quốc, từđời Hán, nho giáo đã du nhập vào Việt Nam. Sĩ
Nhiếp( thế kỉ thứ hai sau công nguyên) được coi là An nam học tổ. Người
mởđầu cho nho học ở nước ta. Ngay từ sau chiến thắng Bạch Đằng ở thế kỉ
thứ X việc xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập trung đã tỏ ra
cần thiết đối với công cuộc dựng nước và giữ nướccua dân tộc ta. Tuy nhiên
đưới thời các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê vịêc xây dựng một nhà nước chủ
thể mới chỉ làm được những bước đầu tiênvà chưa thực sựđược đẩy mạnh,
phải đợi đến thế kỉ XI với sự xác lập của vương triều Lý thì nha nước phong
kiến tập quỳên mớđược xây dựng một cách quy mô bề thế, với các tổ chức
chặt chẽ và quy mô của nó. đến thế kỉ XV , sau khi Lê Lợi chiến thắng quân
Minh(1428)nhà nước Lêđã dành cho nho giáo vị tríđộc tôn và nó trở thành
học thuyết chính thống của nhà nước vào thời Lê Thánh Tông, nóđạt đến mức
toàn thịnh. Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XX nho giáo vẫn giữ vai trò chủ dạo, chi
phối ảnh hưởng của nho giáo, do thực tế lịch sử rất lớn. Nhưng nói chung nho
giáo cóảnh hưởng đến nước ta về rất nhiều mặt có cả tích cực và hạn chế.
Những ảnh hưởng của nho giáo cả về chiều hướng tích cực lẫn hạn chế
tác động như thế nào đến xã hội việt Nam hiện nay? Để tìm hiêu vấn đềđó ta
đi tìm hiểu những giá trị tích cực và hạn chế của nho giáo vàảnh hưởng của
nó vào Việt Nam hiện nay.
8
Tiểu luận triết
2, Những giá trị tích cực và hạn chế của nho giáo.
2.1, Tích cực
Qua các giai đoạn phát triển, Nho giáo đã có những thời kỳ hưng thịnh
cũng như không tránh khỏi những trầm luân. cái khó khăn nhất của nho giáo
là làm thế nào để tồn tại và phát triển đến ngày nay. Để tồn tại được nó phải
có những mặt tích cực mà không ai có thể phủ nhận được.Đó là cải tinh thần
cứu đời mà Khổng Tửđã trịnh trọng nêu lên như là cái mục đích cao cả, làm
thành cái đặc tính thiềng liêng của một nho sí, và như vậy nóđã không chỉ còn
cái nguyên văn của triết học, đạo học, hay tôn giáo, xứng đáng với cái nhân
văn cao cả của nó.
2.1.1. Nho giáo đãđưa ra những tiêu chuẩn đạo đức nhằm cải tạo con
người, hoàn thiện nhân cách cua con người.
2.1.1.1, Đạo theo nho gia là quy luật chuyển biến, tiến hoá của trời đất,
muôn vật.
Đối với con người đạo là con đường đúng đằn phải noi theo để xây dựng
quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của người theo quan điểm cua nho gia là
phải phù hợp với tình người do con người lập nên.trong kinh dịch, sau hai câu
“lập đạo của trời , nói âm và dương” , lập đạo của đất, nói nhu và cương” là
câu “lập đạo của người nói nhân và nghĩa”. Khổng Tử chủ trương cải tạo xã
hội bằng đạo đức. Theo ông làm người cần phải cóđức.
2.1.1.2,Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương
người, nghĩa là dạ thuỷ chung, mọi đức khác đều từ nhân mà ra cũng như
muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương nhu cương mà ra.
Nhân cao hơn các đức khác, có phần bao gồm cả các đức mục khác nhưng
nhân cũng có những tiêu chí riêng. khổng Tử nói : “ ai làm được điều này
trong thiên hạ người đó có nhân: cung, khoan, tín, mẫn, huệ”.cung là khiêm
tốn, biết tôn trọng người và tôn trọng công việc không tỏ ra coi thường người
9
Tiểu luận triết
khác thành ra kiêu ngạo, thành ra không chu đáo. khoan là rộng rãi , không
biết rộng, thu nhận của người đến kiệt. tín là nói sao làm vậy. Mẫn là nhanh
nhen không lề mề, ỷ lại. làm được năm điều đó dân sẽ tin tưởng , dễ sai khiến.
đó làđức mục của người cầm quyền trong quan hệ với dân. nhân như vậy phải
đòi hỏi xuất phát từ lòng thương người, từ sụ tôn trọng của con người mà làm
việc có hiệu quả.
Ngoài ra nhân còn bao gồm các đức là lễ, nghĩa, trí, và tín. “lễ” vừa là
cách thức thờ cúng vừa là những quy định có tính luật pháp, vừa là những
phong tục tâập quán vừa là một kỉ luật tinh thần “ tự khắc kỷ phục lễ”. Suy
cho cùng lễ chỉ là sự bổ sung cụ thể hoá chochính danh nhằm thiết lập trật tự
xã hội phong kiến. nghĩa là những việc nên làm nhằm duy trìđạo lí, như ta
thường nói “hành hiệp trượng nghĩa”. Trí là tri thức, phải có tri thức mới
thành nhân được. Vậy con người phải tu nhân để tề gia trị quốc và bình thiên
hạ. tín là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau. Có tín thì mới có tin.
Như vậy đứcnhân trong nho giáo không chỉ là thương người mà thực chất
làđạo làm người. Nhân bao gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức nên một người có
một số tiêu chủân khác màkhông có nhân thì không gọi là người cóđạo đức
được.
2.1.1.3, Đức gắn chặt với đạo. từđức trong kinh điển nho gia thường
được dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong
tâm hồn ý thức cũng như hình thức ,dáng điệu…theo nho gia mối quan hệ
giữa đạo vàđức trong cuộc sống con người: đường đi lối lại đúng đắn phải xây
dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp làđạo, noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh,
đúng đẳn trong cuộc sống thì cóđược đức trong sáng quý báu ở trong tâm.
2.1.1.4, Trong kinh điển của nho gia, ta thấy năm quan hệ lớn. Bao quát
gọi là “ ngũ luân” đãđược khái quát bằng quan hệ: vua- tôi, cha- con, anh- em,
vợ-chồng, bạn-bè. Từ quan hệấy , kinh lễđã nêu lên mười một đức lớn : vua
nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng
lời, trưởng cóân, ấu ngoan ngoãn, với bạn hữu phảo cóđức tín.
10
Tiểu luận triết
Những tiêu chuẩn đạo đức mà nho giáo đưa ra để khuyên răn, dạy bảo
mọi người có rất nhiều tác dụng đói với sự hình thành nhân cách của mỗi
người trong xã hội , chính vì những tư tưởng đó mà nho giáo còn cóảnh
hưởng lớn đến xã hội ngày nay.
2.2, Quan điểm về giáo dục.
Khổng Tử chủ trương thành lập các trường học hướng mọi người tới con
đường học hành để mở mang dân trí, rèn luyện đạo đức con người, cải tạo
nhân tính. chính tư tưởngvề giáo dục về thái độ và phương pháp học tập của
Khổn Tử chính là bộ phận giàu sức sống nhất trong tư tưởng nho giáo. theo
Khổng Tử giáo dục là cải tạo nhân tính. Muốn dẫn nhân loại trở về tính gần
nhau, tức là chỗ “thịên bản nhiên” thì phải để công vào giáo dục vì giáo dục
có thể hoáác thành thiện. “tu sửa đạo làm người” và “ làm sáng tỏđức sáng” là
mục đích tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính. ông coi giáo dục
không chỉ mở mang nhân tính,tri thức, giải thích vũ trụ màông chú trọng tới
việc hình thành nhân cách con người, lấy giáo dục để mở mang cả trí, nhân ,
dũng,cốt dạy con người ta hoàn thành con người đạo lí.
Mục đích của giáo dục là học đểứng dụng cho cóích với đời, với xãhội,
chứ khônng phải là dể làm quan bổng lộc.học để hoàn thiện nhân cách. Học
để tìm tòi đạo lí.
Phương pháp giáo dục: học một cách đúng lịch trình đúng với điều kiện
tâm sinh lí,coi trọng mối quan hệ giữa các khâu của giáo dục:trong việc học,
cần tuân thủ học gắn liền với tư, với tập, với hành.
Khổng Tử coi giáo dục cho dân đạo lí làm người, thể hiện tư tưởng giáo
dục của nho giáo. tư tưởng “trăm năm trồng người” của Khổng Tử nhằm đào
tạo lớp người lấy đức trị là chính. Trong việc dạy học trò, Khổng tứ có trả lời
11
Tiểu luận triết
sâu hay nông, cao hay thấp tuỳ theo khả năng của người hỏi. Khổng Tử nói: “
tiên học lễ, hậu học văn” vì học phải đi đôi với hành. Trong giáo dục Khổng
Tửcoi trọng sự nêu gương của các tầng lớp vua quan và mở trường học cho
dân “hữu giáo vôđạo’ dạy cho mọi người không phân biệt đẳng cấp là tư
tưởng tiến bộ của Khổng Tử.và chính ông là người thực hiện tư tưởng tiến bộ
này.
2.3, Những quan điểm về chính trị.
2.3.1Thuyết chính danh.
Nho giáo là cơ sởđể chếđộ phong kiến dựa vào đóđể cai trị. Một xã hội
không loạn lạc là một xã hội có trật tự, không lộn xộn. Vì vậy ông tổ nho giáo
đã mong ước lập một tổ chức xã hội màởđó có trên dưới phân minh phổ biến
đó là trật tự về danh vị. chính danh là tư tưởng chính của nho giáo nhăm đưa
xã hội loạn trở lại trị. Khổng Tử cho rằng xã hội cũng cần phải có chính danh.
chính danh là danh( tên gọi chức vụ thứ bậc của một người)và thực (phận sự
của người đó bao gồm cảnghĩa vụ và quyền lợi) phải phù hợp với nhau, chính
danh có nghĩa là một vật trong thực tại cần phải cho phù hợp với cái danh nó
mang. Trong xã hội mỗi người làm đúng theo danh của mình thì xã hội được
yên ổn, có trật tự.
2.3.2 thuyết lễ trị
Nho gia chủ trương theo thuyết lế trị. Lễ hiểu theo nghĩa rộng là những
nghi thức, quy chế, kỉ cương, trật tự, tôn ti của cuôc sống chung trong cộng xã
hội và cả lối cư xử hàng ngày. vởi nghĩa này lễ là cơ sở của xã hội có tổ chức
bảo đảm cho phân định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn, không đồng thời
ngăn ngừa những hành vi và tình cảm cai nhân thái quá.
Nhờ có lễ, con người mới có thể biết được như thế nào là hiếu với cha
mẹ, là kính với người trên, là lễ từ với anh em bạn bè thân thích, là bạn hiền
của bằng hữu, là nhân của người xung quanh , là tín với người thân thuộc.
Lễ hiểu theo một đức trong ngú thường thì là sự thực hành đúng những
giáo huấn kỷ cương, nghi thức do nho gia đề ra cho những quan hệ “ tam
12
Tiểu luận triết
cương”, ngũ thường, thất giáo và cho cả sự thở cúng thần linh, đã là người thì
phải học lễ biết lễ và có lễ. Con người học lễ từ khi còn trẻ thơ. chính vì thế lễ
là một nội dung cơ bản của đạo nho. Lễ với những cách hiểu trên là cơ sở, là
công cụ chính trị, là vũ khí của một phương pháp trị nước, trị dân lâu đời của
nho giáo.Đó chính là lễ trị.
2.4.Nho giáo đưa ra những quan điểm về quản lý xã hội.
2.4.1, Dựa vào nho giáo chếđộ phong kiến duy trì và củng cố quyền lực
để cai tri xã hội ổn định.
Trải qua hàng nghìn năm ,xã hội phong kíên tồn tại được là do lấy nho
giáo làm cơ sở lý luận. Sự thịnh vượngcủa nho giáo từ thế kỉ XV cũng là một
hiện tượng gòp phần thúc đẩy lịch sử tư tưởng nho giáo nước ta phát triển.
2.4.2, Thực hiện thuýêt chính danh:
Chủ trương làm cho xã hội có trật tự,ổn đinh. Mỗi người làm đúng danh
của mình thì xã hội sẽ có trật tự , kỉ cương, gia đìn yên ấm. Nho giáo đề cao
nguyên lí công bằng xã hội.
2.4.3, Nho giáo lấy gia đình để hình dung thể giới.
Nho giáo coi xã hội như một gia đình thu nhỏ. Gia đình có hoà thuân ,
êm ấm thì xã hội mới phát trỉên. những cộng đồng như họ , làng, nước, thế
giới cho cảđến vũ trụ cũng được coi như một gia đình, tức là với các quan hệ
cha con, vợ chồng, anh em, có trên có dưới. Cách cư xửđúng chức năng như
vậy làm cho gia đình thuận hoà, êm ấm. Theo nho giáo áp dụng cách thức như
vậy trong quan hệ xã hội và trong quan hệ nhà nước giữa người cầm quyền
với người dân cũng tạo ra một cảnh êm ấm của xã hội. Tóm lại một xã hội
muốn thanh bình thì trước hết cần phải có những gia đình hoà thuận. để làm
được điều đó nho giáo đòi hỏi mỗi người trong gia đình phải bíêt tuân theo lễ.
2.5 Ảnh hưởng của nho giáo và phát triển văn hoá.
Một trong những nét nổi bật của ảnh hưởng nho giáo là tình hình phát
triển văn hoá. Nho giáo vốn rất coi trọng văn chương. cho nên các nước theo
nho giáo đều đề cao đức trị, lễ nhạc, văn hiến, đề cao việc giáo dục. điều
13
Tiểu luận triết
đóđẩy mạnh đến mức biến các nước đó thành đề cao người đi học, người biết
chữ người làm được thơ phú, thậm chíđiều đó còn dẫn đến thói quen sùng bái
sách vở, quý trọng người có học vấn.
3. Hạn chế.
3.1, Chính trị.
3.1.1, Phong kiến dựa vào nho giáođể cai trị với những thủ tục hà khắc
trong quan hệ tam cương ngũ thường.
Theo nho giáo mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan
hệ tự nhiên. đó là quan hệ cha con, vua tôi, vợ chồng, anh em, bạn bè. Năm
mồi quan hệ này phản ảnh hai mặt của cuộc sống hịên thực là quan hệ gia
đình và quan hệ xãhội. trong xã hội phong kiến mỗi gia đình được củng cố
bằng chếđộ tông pháp và chếđộ gia trưởng, còn cácquan hệ xã hội thìđược
duy trì bởi chếđộ chính trịđẳng cấp. đi cầu với những mối quan hệđó là những
yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện.
Tương ửng với mối quan hệđó nho giáo đặt ra những yêu cầu mang tính quy
phạm đạo đức vàđượcpháp luật ngầm bảo trợ. chính vì thê mà có những mối
quan hệ trên nho giáo trở thành quá cứng nhắc khô khan, khuân mẫu. Trong
xã hội không có sự bình đẳng với phụ nữ, có sự phân bịêt giai cấp. Người phụ
nữ trong xã hội phong kiến bị trói buộc vì tam tòng tứđức họ không có quyền
tự do quyết định cuộc sống của mình. Khi lớn lên lầy chồng thì cha mẹđặt đâu
con ngồi đấy. Khi lấy chồng thì phải nghe lời chông, phải làm tròn bổn phận
của mình. Thái độ chuộng đức vàđề cao tu dưỡng của nho giáo một mặt làm
cho con người ngoan ngoãn chấp nhận quân quyền, phụ quyền,và nam quyền
có tính áp bức.
3.1.2, Nho gia thể hiện tính nguyên tắc.
Theo nho gíáo mỗi người phải có vị trí , nhiệm vụ của mình trong xã hội.
nho giáo chiếm vị tríđộctôn thì lễ chế của nó bất đầu phát triển mạnh. Khi đó
nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt nếp sống giản dị, những quan
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét