Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

352 Nâng cao khả năng tiếp nhận các nguồn vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ



iii
DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Nội dung Trang
1 Bảng 1.1: Tiêu chí xác đònh DNNVV ở một số nước 3
2 Bảng 2.1: Số lượng DNNVV phân theo quy mô nguồn vốn (2000-2002) 14
3 Bảng 2.2: Tổng sản phẩm (GDP) trong nước trên đòa bàn (theo giá thực
tế)

17
4 Bảng 2.3: Tốc độä phát triển tổng sản phẩm (GDP) trên đòa bàn (%) 18
5 Bảng 2.4: Thu ngân sách của TPHCM trong 6 tháng đầu năm 2004 19
6 Bảng 2.5: Số lượng DNNVV phân theo quy mô nguồn vốn (2000-2002) 20
7 Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp và cơ cấu DNNVV ở TPHCM 2001 22
8 Bảng 2.7: Nhân lực quản lý của các DNNVV ở TPHCM năm 2001 24
9 Bảng 2.8: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân lực quản lý trong các
DNNVV tại TPHCM năm 2001

25
10 Bảng 2.9: Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước năm 2001 28
11 Bảng 2.10: Vốn đầu tư khu vực ngoài quốc doanh năm 2001 28
12 Bảng 2.11: Cơ cấu nguồn vốn của các loại hình doanh nghiệp đến ngày
31.7.1997

32
13 Bảng 2.12: Tổng Dư Nợ đầu tư cho vay trung dài hạn của các ngân hàng
thương mại trên đòa bàn TPHCM năm 2003

34
14 Bảng 2.13: Tình hình dư nợ tín dụng của các NHTM trên đòa bàn TPHCM 35
15 Bảng 2.14: Một số dự án tín dụng tài trợ 35
16 Bảng 2.15: Khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng 37

17
Bảng 2.16: Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của các công ty CTTC tính đến
31/12/2003

41

18
Bảng 2.17: Dư nợ cho thuê theo thành phần kinh tế của Công ty CTTC I
– NHNN&PTNT tính đến 31/3/2003

42

19
Bảng 2.18: Dư nợ cho thuê đối tượng của Công ty CTTC I –
NHNN&PTNT tính đến 31/3/2003

42
20 Bảng 2.19: Tổng kết các hoạt động cho vay trung và dài hạn 45
21 Bảng 2.20: Cơ cấu cho vay của chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển TP.HCM
đối với các ngành nghề, lónh vực

46
22 Bảng 2.21: Cơ cấu cho vay vốn tín dụng đầu tư từ Quỹ hỗ trợ phát triển 46
23 Bảng 2.22: Cơ cấu cho vay của Quỹ phát triển đô thò TP.HCM đối với
các loại hình doanh nghiệp theo quy mô

47



iv


DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Nội dung Trang
1 Hình 2.1: Tỷ trọng DNNVV qua các năm 2000, 2001 và 2002 15
2 Hình 2.2: Phân bố DNNVV trong phạm vi cả nước 23
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nội dung
1 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
2 DN Doanh nghiệp
3 TCTC Cho thuê tài chính
4 TTCK Thò trường chứng khoán



1
Lời mở đầu

1. Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay, trong nền kinh tế của các nước trên thế giới có đến hơn 90%
trong tổng số các doanh nghiệp là DNNVV, nó đóng góp đáng kể vào việc phát
triển kinh tế. nước ta, doanh nghòêp nhỏ và vừa không ngừng lớn mạnh cả về
số lượng, qui mô và tốc độ phát triển. Với những ưu điểm nổi bật, kinh tế tư nhân
nói chung và các DNNVV nói riêng có vai trò to lớn trong công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời đóng góp tích cực và quan trọng
vào quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế của nước ta.
Hiện nay các DNNVV trước lộ trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới
vào năm 2005, đang đứng trước áp lực phải nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm, của thương hiệu, của doanh nghiệp so với các nước trong khu vực. Để phát
triển và tiếp tục giữ được tốc độ phát triển cao, các DNNVV hiện có nhu cầu
vốn rất lớn để mua sắm máy móc, thiết bò, đổi mới công nghệ, xây dựng nhà
xưởng, mở rộng quy mô sản xuất.
Tác giả rất bức xúc trước tình trạng thiếu vốn trầm trọng của các
DNNVV trước nhu cầu vốn cấp thiết như thế và trong khi các nguồn vốn tín
dụng hiện rất dồi dào, đặc biệt là nguồn vốn tài trợ ưu đãi từ các tổ chức quốc
tế. Thiếu vốn không những làm cho các doanh nghiệp phải đối mặt với công nghệ
lạc hậu, chi phí giá thành cao, sức cạnh tranh kém mà còn làm tổn hại đến nền
kinh tế, đến sự tăng trưởng của nền kinh tế góp phần làm cho Việt nam có nguy
cơ tụt hậu kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.
Với mong muốn đề xuất một số giải pháp nhằm hổ trợ phát triển loại hình
doanh nghiệp và nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng của khu vực kinh tế này, tác
giả mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận của các
DNNVV với các nguồn vốn tín dụng”.
2. Ý nghóa của việc nghiên cứu
Luận văn góp phần hoàn thiện thực tiễn về nhu cầu vốn, huy động vốn
của các DNNVV.
Đánh giá và khẳng đònh vai trò của DNNVV trong sự phát triển kinh tế
đất nước.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo và nghiên cứu cho những ai quan
tâm đến đề tài này.


2


3. Phương pháp nghiên cứu
Về tổng thể, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương
pháp logic kết hợp với phương pháp duy vật lòch sử.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê phân
tích, quy nạp, diễn giải, đối chiếu, mô hình hoá . . . để làm rõ những luận điểm
đề cập trong luận văn.
Đồng thời, luận văn còn sử dụng phương pháp phỏng vấn, tiếp cận với các
DNNVV để có được số liệu thực tế nhằm đánh giá đúng thực trạng hoạt động,
nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận các nguồn vốn tín dụng
của các DNNVV.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
a. Phạm vi nghiên cứu của đề tài được đề cập ở hai lónh vực:
- Về không gian: luận văn chỉ khảo sát các DNNVV.
- Về thời gian: luận văn chỉ đề cập đến vấn đề tiếp cận vốn của các
DNNVV từ năm 1991 đến nay.
b. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong phạm vi đề tài này tập trung vào phân tích
các tác động tích cực và tiêu cực của các chính sách tài chính, các chính sách kinh
tế vó mô và các thủ tục hành chính liên quan đến sự tiếp cận nguồn vốn của
DNNVV.
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn được chia làm ba chương cùng với lời mở đầu và kết
luận như sau:
− Lời mở đầu
− chương 1: tổng quan về DNNVV
− chương 2: thực trạng nhu cầu vốn và huy động vốn của DNNVV trong
thời gian qua
− chương 3: giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn của các
DNNVV
− kết luận


3
− tài liệu tham khảo
Nguồn số liệu trong luận văn được tham khảo từ niên giám thống kê, báo
chí, các trang web của các cơ quan có liên quan và qua điều tra một số DNNVV
ở Thành phố Hồ Chí Minh.


4
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA
1.1
KHÁI NIỆM VỀ DNNVV
1.1.1
K
HÁI NIỆM
DNNVV
CỦA MỘT SỐ NƯỚC

DNNVV (DNN&V) là loại doanh nghiệp được phân loại theo quy mô.
Trên thế giới, tiêu thức xác đònh DNNVV thường là: vốn, lao động, doanh
thu. Có nước chỉ dùng một tiêu chí, nhưng cũng có một số nước dùng một số tiêu
chí để xác đònh DNNVV. Một số nước dùng tiêu chí chung cho tất các ngành,
nhưng cũng có nước lại dùng tiêu chí riêng để xác đònh DNNVV trong từng
ngành.
Bảng 1.1: Tiêu chí xác đònh DNNVV ở một số nước
Các tiêu chí áp dụng
Nước Số lao động (người) Tổng vốn hoặc giá trò
tài sản
Doanh thu
Canada < 500 trong công
nghiệp và dòch vụ
< 20 triệu đô la
Canada
Indonesia < 0,6 tỷ Rupi < 2 tỷ Rupi
Nhật <100 trong buôn bán
<50 trong bán lẻ
<300 trong các ngành
khác
< 30 triệu Yên
< 10 triệu Yên
< 100 triệu Yên

Singapore <100 < 499 triệu SGD
Mỹ <500
Malaysia < 50 < 500.000 Ringit
Nguồn: Dẫn theo kỷ yếu khoa học Dự án chính sách hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam.
Học viện chính trò quốc gia Hà Nội, viện Friedrich Ebert, CHLB Đức. Hà Nội
1996
Căn cứ vào tiêu thức xác đònh DNNVV nêu trên, có thể khái quát thành
các khái niệm sau:
Quan niệm thứ nhất cho rằng: tiêu chuẩn đánh giá xếp loại DNNVV phải
gắn với đặc điểm từng ngành đồng thời phải tính đến số lượng vốn và lao động
được thu hút vào hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhật Bản là nước theo quan
niệm này. Luật về DNNVV của Nhật Bản quy đònh trong lónh vực kinh doanh
bán buôn các DNNVV là những doanh nghiệp thu hút dưới 100 lao động với số


5
vốn là 30 triệu Yên. Trong lónh vực chế biến và các ngành khác là 300 lao động
và vốn là 100 triệu Yên.
Quan niệm thứ hai cho rằng tiêu chuẩn đánh giá xếp loại DNNVV không
phân biệt ngành nghề mà chỉ căn cứ vào số lao động và vốn thu hút vào kinh
doanh, các nước theo quan niệm này gồm có: Mêxicô, Philipin, Singapore, Thái
Lan, Malaysia. . . Tuy nhiên về mức độ thì có khác nhau như Mêxicô là 250 lao
động còn Malaysia chỉ là 50 lao động, về vốn thì Singapore là 499 SGD, còn
Malaysia chỉ có 500.000 Ringit.
Quan niệm thứ ba cho rằng tiêu chuẩn để đánh giá xếp loại doanh nghiệm
vừa và nhỏ ngoài tiêu thức về lao động và vốn kinh doanh còn quan tâm đến
doanh thu hàng năm của doanh nghiệp, theo quan niệm này có Canada với
doanh thu là 20 triệu đôla Canada, Inđônesia với doanh thu là 2 tỷ Rupi.
Quan niệm thứ tư, căn cứ vào tiêu thức số lao động tham gia hoặc có phân
biệt ngành nghề, hoặc không có phân biệt ngành nghề, quan niệm này nhằm để
Nhà nước có những chính sách đối với doanh nghiệp trong vấn đề thu hút lao
động giải quyết việc làm. Theo quan niệm này có các nước như Australia,
HongKong, Mỹ và Myanmar.
1.1.2
K
HÁI NIỆM VỀ
DNNVV

V
IỆT
N
AM

DNNVV được phân loại theo qui mô, tiêu chí để xác đònh DNNVV thông
thường là dựa vào vốn, lao động, doanh thu. Trên thực tế, việc xác đònh thế nào
là DNNVV thường được xem xét phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế,
trình độ trang bò kỹ thuật, tình hình giải quyết việc làm và mục đích của việc xác
đònh. Như vậy, tiêu chí và độ lớn của các tiêu chí để xác đònh DNNVV có thể
thay đổi theo thời gian, khi thực tiễn kinh tế - xã hội thay đổi.
Việt Nam có nhiều tiêu thức phân loại DNNVV trong thời gian qua của
một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức được tổng hợp như sau:
Thứ nhất, Ngân hàng công thương Việt Nam coi DNNVV là các doanh
nghiệp có dưới 500 lao động, vốn cố đònh dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8
tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng. Sự xác đònh này nhằm mục
đích để xác đònh đối tượng cho vay.
Thứ hai, thông tư số 21/LDTT ngày 17/6/1993 của Liên Bộ Lao Động
Thương Binh Xã Hội Tài Chính coi doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có:
- lao động thường xuyên dưới 100 người
- doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ đồng
- vốn pháp đònh dưới 1 tỷ đồng


6
Sự xác đònh này nhằm mục đích để có chính sách đầu tư và quản lý.
Thứ ba, dự án VPE/US/95/004 hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam do UNIDO tài
trợ coi doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có lao động dưới 30 người vốn đăng
ký dưới 1 tỷ đồng. Cũng theo dự án này, DNNVV có lao động từ 31 đến 200
người và vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng.
Sự xác đònh này nhằm mục đích để tài trợ cho doanh nghiệp.
Thứ tư, Quỹ hỗ trợ DNNVV thuộc chương trình VN-EU: Doanh nghiệp
được Quỹ này hỗ trợ gồm các doanh nghiệp có số công nhân từ 10 đến 500
người và vốn điều lệ từ 50 ngàn đến 300 ngàn USD. Mục đích hỗ trợ vốn cho
các DNNVV ở Việt Nam.
Thứ năm, Quỹ phát triển nông thôn (thuộc Ngân hàng Nhà nước) coi
DNNVV là doanh nghiệp có:
- Giá trò tài sản không quá 2 triệu USD.
- Lao động không quá 500 người.
Mục đích xác đònh mức độ đô thò hoá ở nông thôn để có chính sách phát
triển ngành nghề ở nông thôn.
Thứ sáu, ngày 20/6/1998 tại công văn số 681/CP-KTN của Chính phủ về
việc đònh hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV đã tạm thời
quy đònh thống nhất tiêu chí xác đònh DNNVV ở Việt Nam là những doanh
nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm
dưới 200 người. Quy đònh cũng nêu rõ, trong quá trình thực hiện các bộ, ngành,
đòa phương có thể căn cứ vào tình trạng xã hội cụ thể mà áp dụng đồng thời cả
hai tiêu chí vốn và lao động hoặc 1 trong 2 tiêu chí nói trên.
Với cách xác đònh này thì về mặt số lượng, DNNVV chiếm tỷ lệ lớn trong
tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam. Nếu theo tiêu chí vốn, trong tổng số 23.708
doanh nghiệp được điều tra trong cuộc tổng điều tra các cơ sở kinh tế trên phạm
vi cả nước tại thời điểm 1.7.1995, có tới 20.856 doanh nghiệp là các DNNVV,
chiếm tỷ lệ 87,97%. Còn nếu căn cứ vào tiêu chí lao động thì DNNVV cũng
chiếm gần 96% trong tổng số các doanh nghiệp.
Hiện nay, theo nghò đònh của Chính phủ số 90/2001/NĐ-CP ngày
23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, DNNVV được đònh nghóa là cở sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành,
có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người. Theo đó, DNNVV bao gồm:


7
- các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp,
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp
nhà nước
- các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghò đònh số 02/2000/NĐ-
CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh
doanh.
Với tiêu chí mới này, tỷ lệ DNNVV trong tổng số các doanh nghiệp ở
Việt Nam càng cao. Theo số liệu thống kê từ thực tế những năm gần đây, số
DNNVV có số vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 94,93% trong tổng doanh nghiệp ở
Việt Nam. Vì thế, trong bài viết này những nội dung đề cập đến kinh tế tư nhân
cũng như là điển hình đề cập đến DNNVV.
1.2
VAI TRÒ CỦA DNNVV TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẤT
NƯỚC
Kinh tế tư nhân nói chung và các DNNVV nói riêng, trong những điều
kiện cụ thể của nước ta và xét về mặt hiệu quả kinh tế – xã hội, đã cho thấy vai
trò tiến bộ của nó trong phát triển kinh tế cũng như nâng cao đời sống nhân dân.
Kinh tế tư nhân nói chung đã đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế
của cả nước, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập dân
cư, cải thiện mức sống văn hóa, tăng tích lũy cho xã hội và đóng góp cho ngân
sách nhà nước.
Vai trò của DNNVV thể hiện ở các mặt sau:
a.
DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm cho người lao
động, tăng thu nhập cho dân cư, cải thiện mức sống văn hóa.
Đây là vai trò lớn nhất và quan trọng nhất của các DNNVV. Bởi vì trên
thực tế khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện đang trong quá trình cải cách không
tạo thêm việc làm, các cơ quan của chính quyền nhà nước đều trong quá trình
giảm biên chế trong khi tuyển dụng thêm không nhiều. Do đó cơ hội tạo thêm
việc làm mới cho xã hội hầu hết là do khu vực tư nhân. Về trước mắt cũng như
lâu dài đây là đóng góp quan trọng nhất của khu vực tư nhân Việt Nam, cũng
như các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt
Nam.
Như ở TP Hồ Chí Minh với trên 7 triệu dân, hàng năm phải giải quyết
việc làm cho khoảng 1.900.000 người (văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hồ


8
Chí Minh lần VII), điều đó cho thấy việc phát triển các DNNVV càng có ý nghóa
rất quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Có
như vậy, đến năm 2005 mới giảm tỷ lệ thất nghiệp khoảng 6% (theo văn kiện
đại hội Đảng bộ TP HCM lần thứ VII). DNNVV dễ thành lập, thu hút nhiều lao
động ở nhiều ngành nghề khác nhau nhằm giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động. Hơn nữa đối với DNNVV có điều kiện hình thành doanh nghiệp
ở những đòa điểm cần thiết và việc trả công lao động không đòi hỏi như doanh
nghiệp lớn, đồng thời có thể sử dụng lao động theo thời vụ.
Xuất đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc ở DNNVV thấp hơn nhiều so với
doanh nghiệp lớn. DNNVV dễ dàng tiếp nhận lao động dôi dư ra từ khu vực
nông nghiệp chưa đòi hỏi trình độ cao, phải đào tạo qua nhiều thời gian và chi
phí tốn kém, mà chỉ cần bồi dưỡng hay đào tạo ngắn hạn là có thể tham gia sản
xuất được ngay.
Vai trò giải quyết việc làm của các DNNVV không chỉ là số lao động
thường xuyên ở các doanh nghiệp, mà còn là sự tạo điều kiện để lao động ngoài
doanh nghiệp có việc làm thông qua các hoạt động như cung ứng đầu vào, tiếp
nhận đầu ra và phục vụ sản xuất kinh doanh cũng như những công việc không
thường xuyên ở các doanh nghiệp, thực tế cho thấy có tới 30% tổng số những
công việc nêu trên là do cá nhân và hộ gia đình bên ngoài đảm nhận. Đặc biệt
đối với những ngành nghề truyền thống thì tỷ lệ này còn cao hơn.
b.
Phát triển DNNVV tạo điều kiện tận dụng triệt để các nguồn lực xã
hội.
DNNVV thường được bắt đầu từ một nguồn vốn rất hạn hẹp và chủ yếu từ
người dân, hầu như không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Vốn đầu tư cho
DNNVV thường là vài ba trăm triệu thậm chí chưa đến một trăm triệu, vì vậy nó
có khả năng thu hút vốn một số ngành nghề trong dân cư rất lớn.
DNNVV sử dụng vốn ít, việc thành lập DNNVV thuận lợi dễ dàng.
DNNVV có điều kiện cơ hội sử dụng tiềm năng của vùng và khơi dậy các ngành
nghề truyền thống của đòa phương, tạo điều kiện sử dụng nguồn lao động nhàn
rỗi, và cơ sở để đô thò hoá ở vùng nông thôn (như nâng cao mức sống nhân dân,
nâng cao dân trí, phát triển cơ sở hạ tầng. . .).
c.
DNNVV có tác dụng quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá –
hiện đại hoá và chuyển dòch cơ cấu kinh tế của đòa phương.
Quá trình phát triển DNNVV cũng là quá trình cải tiến máy móc thiết bò,
đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và nâng cao chất lượng sản
phẩm để đáp ứng thò hiếu người tiêu dùng, mở rộng các mối quan hệ giữa sản
xuất và tiêu dùng. Từ đó phát triển thêm nhiều ngành nghề mới, mở rộng nhiều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét