Thị trường ở đây được hiểu ở hai góc độ, thị trường đầu vào và thị trường
đầu ra của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh
nào, doanh nghiệp cần phải tham gia vào thị trường đầu vào nhằm thực hiện
thành cơng chiến lược 5P: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (giao
tiếp, khuyếch trương), Place (địa điểm) và People (con người). Từ đó tiếp cận
mạnh mẽ vào thị trường đầu ra, tìm kiếm lợi nhuận. Qui trình đó chỉ được bắt
đầu khi doanh nghiệp trang bị được đầy đủ vốn cần thiết. Nhưng khơng phải
doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính. Do vậy, buộc họ phải tìm
kiếm vốn phục vụ chính họ. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp các doanh
nghiệp giải quyết những khó khăn đó, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thoả
mãn tối đa nhu cầu của thị trường trên mọi phương diện: giá cả, chủng loại, chất
lượng, thời gian, địa điểm NHTM sẽ là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị
trường gần nhau hơn cả về khơng gian và thời gian.
2.3. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trong xu thế khu vực hố, tồn cầu hố như hiện nay thì vai trò này ngày
càng thể hiện rõ rệt hơn. áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở
cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài
chính. Nhưng làm thế nào để có thể hồ nhập nền tài chính của một quốc gia với
phần còn lại của thế giới? Câu hỏi đó sẽ được giải đáp nhờ vào hệ thống các
NHTM vì hệ thống này có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau
hỗ trợ cho việc đầu tư từ nước ngồi vào trong nước theo các hình thức: thanh
tốn quốc tế, nghiệp vụ hối đối, cho vay uỷ thác đầu tư giúp cho luồng vốn
ra, vào một cách hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp với nền tài chính
quốc tế. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết cho tiến trình hội nhập
kinh tế ở các quốc gia trên thế giới.
2.4. Ngân hàng thương mại là cơng cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mơ nền
kinh tế vì hoạt động Ngân hàng góp phần chống lạm phát
Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm phát
qua con đường tín dụng. Khi xảy ra lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ tăng tỉ lệ
vào dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị trường mở để
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thơng qua các ngân hàng thương mại thay đổi lại lượng tiền trong lưu thơng.
Các Ngân hàng thương mại sẽ kiểm sốt lạm phát thơng qua các hoạt động tín
dụng, bảo lãnh. Từ đó ngân hàng xác định được hướng đầu tư vốn và đề ra các
biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế, làm cho q
trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp phần điều hồ lưu thơng tiền tệ, ổn định
sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát.
3. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại
3.1. Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có của NHTM
Đây là nghiệp vụ phản ánh q trình tạo vốn của NHTM mà cụ thể là hình
thành nên nguồn vốn của NHTM. Nguồn vốn của NHTM bao gồm:
*Vốn tự có:
Vốn tự có là vốn riêng có của NHTM. Vốn này tuy chiếm tỉ trọng nhỏ
trong tổng vốn của NHTM song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập
một ngân hàng. Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như là tài
sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh tốn trong
trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn tự có cũng là căn cứ để tính tốn các tỷ
lệ đảm bảo an tồn trong hoạt động ngân hàng.
Trong thực tế, vốn tự có khơng ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động
kinh doanh của bản thân ngân hàng mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một
phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời góp
phần vào nâng cao vị thế của NHTM trên thương trường.
Như vậy, vốn tự có là nguồn vốn ổn định, ngân hàng sử dụng một cách
chủ động. Do đó vấn đề đặt ra là ngân hàng phải bảo tồn và khơng ngừng tăng
vốn tự có của mình theo u cầu của sự phát triển hoạt động kinh doanh theo
đúng chính sách, chế độ. Đồng thời phải sử dụng vào các mục đích đã định.
* Nghiệp vụ huy động vốn:
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các
TCKT và cá nhân trong xã hội thơng qua q trình thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Vốn huy động là cơng cụ chính đối với các hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt
nguốn vốn này thì khơng những nguồn lợi của ngân hàng được tăng lên mà còn
tạo cho ngân hàng uy tín ngày càng cao. Qua đó ngân hàng có thể mở rộng được
vốn và mở rộng qui mơ hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm: Tiền gửi doanh nghiệp,
tiền gửi dân cư,phát hành giấy tờ có giá
* Nghiệp vụ vốn đi vay:
Đối với nghiệp vụ này các NHTM tiến hành tạo vốn cho mình bằng cách
vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ và NHTƯ dưới hình thức tái chiết khấu
hay vay có bảo đảm, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân
NHTM khi mà họ khơng tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Thực tế
cho thấy, chi phí của vốn đi vay thường cao hơn chi phí của vốn huy động tại
chỗ. Tuy nhiên, tính chủ động của vốn đi vay lại cao hơn vốn huy động tại chỗ.
*Nghiệp vụ tạo vốn khác:
Trong q trình là trung gian thanh tốn, các NHTM cũng tạo được một
khoản gọi là vốn trong thanh tốn: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản
tiền gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong toả do ngân hàng
chấp nhận các hối phiếu thương mại Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi
tài khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên tạm thời coi là tiền
nhàn rỗi.
Thơng qua nghiệp vụ đại lý, ngân hàng thu hút được một lượng vốn đáng
kể trong q trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các TCTD khác,
nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư Do đó ngân hàng có
thể sử dụng tạm thời những tài khoản đó vào kinh doanh.
Để mở rộng nghiệp vụ này các NHTM cần chú trọng đến phát triển các
dịch vụ và khơng ngừng nâng cao uy tín của mình trên thương trường.
3.2. Nghiệp vụ tài sản có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Là nghiệp vụ phản ánh q trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm
đảm bảo an tồn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM. Nội dung nguồn
vốn này gồm:
*Nghiệp vụ ngân quĩ
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản về dự trữ của ngân hàng nhằm đảm
bảo an tồn trong thanh tốn và thực hiện qui định về dự trữ bắt buộc do NHTƯ
đề ra. Vì một trong những chức năng của NHTM là nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hồn trả. Khoản dự trữ này do NHNN qui định theo một tỷ
lệ nhất định trên tổng tiền gửi. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc này thay đổi theo từng thời
kỳ nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Những khoản này gồm: tiền mặt tại quĩ, tiền gửi tại NHNN (dự trữ bắt
buộc và tiền gửi đảm bảo khả năng thanh tốn), các chứng khốn có tính thanh
khoản cao.
*Nghiệp vụ cho vay
Là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và tạo khả năng sinh lời cao cho ngân
hàng. Trong tổng tài sản có thì nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Nghiệp vụ cho vay bao gồm các khoản sinh lời thơng qua cho vay ngắn
hạn, trung và dài hạn:
- Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay nhằm giải quyết thiếu hụt vốn
tạm thời trong kinh doanh của khách hàng. Cho vay ngắn hạn chủ yếu đầu tư
vào tài sản lưu động. Ở Việt Nam hiện nay thường cho vay ngắn hạn theo hai
phương thức:
+ Cho vay theo hạn mức: áp dụng cho những khách hàng vay trả
thường xun có vòng quay vốn nhanh.
+ Cho vay từng lần: áp dụng cho những khách hàng vay trả thường
xun và có vòng quay vốn chậm.
- Cho vay trung - dài hạn: là hình thức cho vay mà tiền vay được cấu tạo
vào tài sản cố định. Đây là loại cho vay có thể nhận trức tiếp bằng tiền hoặc cho
vay thơng qua tài sản - nghiệp vụ cho th tài chính.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận cơ bản cho ngân hàng, nhưng đồng
thời nó cũng mang lại rủi ro rất cao cho nên ngân hàng ln xem xét kỹ lưỡng
tới từng món vay và từng đối tượng khách hàng vay để chỉ đảm bảo an tồn cho
các khoản vay.
*Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Các NHTM thực hiện q trình đầu tư bằng vốn của mình thơng qua các
hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khốn trên thị trường với mục
đích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hố các hoạt động kinh doanh.
*Nghiệp vụ tài sản có khác
Bằng các hoạt động khác trên thị trường như: uỷ thác, đại lý, kinh doanh
và dịch vụ bảo hiểm, thực hiện các dịch vụ tư vấn, ngân quĩ và các dịch vụ
khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như dịch vụ bảo quản hiện vật q, giấy
tờ có giá, cho th két, cầm đồ và nhiều dịch vụ khác theo qui định của NHNN
Việt Nam giúp cho Ngân hàng thu được những khoản lợi đáng kể.
3.3. Nghiệp vụ khác
*Nghiệp vụ trung gian
Là nghiệp vụ của ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thơng
qua đó nhận được các khoản thu dưới hình thức hoa hồng. Nền kinh tế càng phát
triển thì dịch vụ này càng mở rộng. Gồm có:
- Ngân hàng tiến hành chuyển tiền cho khách hàng, thanh tốn hộ
khách hàng về các khoản tiền mua bán dịch vụ thơng qua việc thu hộ, chi hộ
khách hàng bằng hình thức séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng
- Ngân hàng đóng vai trò làm trung gian trong việc mua bán hộ cho
khách hàng.
- Ngân hàng làm đại lý phát hành và bán chứng khốn cho cơng ty.
*Nghiệp vụ ngoại bảng
Là những khoản dùng để phản ánh những tài sản tạm thời để ở ngân hàng
nhưng khơng thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Ngồi ra, các khoản này còn
phản ánh một số chỉ tiêu kinh tế đã được phản ánh ở các tài khoản trong bảng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cân đối kế tốn những đơn vị cần theo dõi để phục vụ u cầu quản lý nợ khó
đòi đã xử lý, chi tiết ngoại tệ
Về ngun tắc, các tài khoản thuộc loại này đều ghi “đơn” tức là chỉ ghi
vào bên nợ hoặc bên có của tài khoản mà khơng ghi quan hệ đối ứng hoặc giá
qui định trong biên bản giao nhận, trong hố đơn, chứng từ. Tài sản nhận giữ hộ,
tài sản gán nợ, xiết nợ chờ xử lý
Những tài sản phản ánh trên các tài khoản này đều phải được tiến hành
kiểm kê, bảo quản như với tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
II. VỐN HUY ĐỘNG VÀ CƠNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm về vốn
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng
thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện
các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối tồn bộ hoạt động của ngân hàng
thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng bao gồm:
*Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được,
thuộc sở hữu của ngân hàng. Nó mang tính ổn định và căn cứ để quyết định đến
khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng.
*Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh
doanh. Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ
có quyền sử dụng và phải hồn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguồn vốn này
ln biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động
của ngân hàng.
*Vốn đi vay là phần vốn các Ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt
động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng. Nó có chi phí tương
đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
*Vốn khác là phần vốn phát sinh trong q trình thực hiện các nghiệp vụ
thanh tốn…
2. Vai trò của vốn huy động
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì
phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh
doanh. Riêng đối với Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng
hố đặc biệt là “tiền tệ” với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay”
nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng lại càng có vai trò
hết sức quan trọng. Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân
hàng. Ngồi vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theo luật định thì để bắt
đầu hoạt động kinh doanh của mình, việc đầu tiên mà ngân hàng phải làm là huy
động vốn. Vốn huy động sẽ cho phép ngân hàng cho vay, đầu tư để thu lợi
nhuận. Nói cách khác, nguồn vốn mà ngân hàng huy động được nhiều hay ít
quyết định đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Nguồn vốn huy động
được nhiều thì cho vay được nhiều và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế,
một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho ngân hàng điều kiện để mở rộng
hoạt động kinh doanh, đa dạng hố các loại hình dịch vụ, khơng bỏ lỡ cơ hội đầu
tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng được uy tín cho ngân hàng.
Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng quyết định đến khả
năng cạnh tranh. Nếu nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng minh rằng qui mơ, trình
độ nghiệp vụ, phương tiện kĩ thuật của ngân hàng hiện đại.
Các ngân hàng thực hiện cho vay và nhiều hoạt động khác đều chủ yếu
dựa vào vốn huy động. Còn vốn tự có chỉ sử dụng trong những trường hợp cần
thiết. Vì vậy, khả năng huy động vốn tốt sẽ là điều kiện thuận lợi đối với ngân
hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về qui
mơ, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí
quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng
nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng
và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo uy
tín và năng lực trên thị trường.
Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các ngân hàng ln tìm cách đưa
ra những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ những người gửi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
tiền và những người cho vay khác nhau đến việc sử dụng nguồn vốn một cách
hiệu quả. Bên cạnh đó, các nhà quản trị ngân hàng cũng ln tìm cách để đổi
mới, hồn thiện chúng cho phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế. Đó là
một trong những điều kiện tiên quyết đưa ngân hàng đến thành cơng.
3. Các hình thức huy động vốn
3.1. Tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, doanh
nghiệp cơ quan Nhà nước và các định chế tài chính trung gian cùng cá nhân
trong và ngồi nước có quan hệ gửi tiền tại ngân hàng.
Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai bộ phận: Tiền gửi của doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
*Tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế bao gồm:
-Tiền gửi khơng kỳ hạn.
Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân
hàng phải thoả mãn u cầu đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi
dùng để đảm bảo trong thanh tốn.
Tiền gửi đảm bảo thanh tốn được ký ýthác vào ngân hàng để thực hiện
các khoản chi trả khác phát sinh trong q trình hoạt động kinh doanh của khách
hàng một cách thuận tiện và tiết kiệm. Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chờ
thanh tốn mà khơng phải để dành. Bởi vậy đối với khách hàng đây là một tài
sản mà họ kýý thác uỷ nhiệm cho ngân hàng bảo quản và thực hiện các nghiệp
vụ liên quan theo u cầu của khách hàng. Do vậy khách hàng khơng mất quyền
sở hữu, cũng như quyền sử dụng số tiền đó. Họ có quyền lấy ra hoặc chuyển
nhượng cho bất kỳ ai và bất kỳ thời gian nào. Khách hàng được sử dụng số tiền
của mình bằng các phương tiện thanh tốn dùng để chi trả như séc, uỷ nhiệm
chi, thư chuyển tiền…
Đối với ngân hàng đây là một khoản nợ mà ngân hàng có nghĩa vụ thực
hiện lệnh thanh tốn chi trả cho người thụ hưởng loại tiền gửi này, lãi suất
thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác.Nhưng khi khách
hàng mở và sử dụng các loại tài khoản này thì được ngân hàng cung ứng các loại
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
dịch vụ miễn phí hoặc thu với tỷ lệ thấp, lượng tiền vốn ở tài khoản thanh tốn
thường chiếm gần 1/3 tiền gửi ngân hàng.
Như vậy các tài khoản này đã đem lại cho khách hàng sự an tồn trong
việc bảo quản vốn và trong qúa trình thanh tốn trả tiền hàng hố dịch vụ, ngồi
ra khách hàng còn được hưởng một khoản tiền lãi nhỏ và một số dịch vụ miễn
phí. Còn đối với ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí cho bộ máy kế tốn theo
dõi và nghi chép các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc và một số dịch
vụ kèm theo. Chi phí này khá lớn, nhưng nó được bù đắp lại bởi vì trên thực tế
do lượng tiền gửi vào và số lượng tiền rút ra khơng cùng một lúc và chủ tài
khoản thường khơng sử dụng hết số tiền của mình trên tài khoản. Do đó ln tồn
tại một số tiền trên tài khoản trong một thời gian dài số dư ấy được ngân hàng
dùng để đầu tư cho vay đối với một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn sản
xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận. Như vậy đối với tài khoản tiền gửi thanh tốn
số dư trên tài khoản giao dịch khơng những bù đắp được chi phí mà còn có thể
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngày nay do điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều cơng nghệ mới
được ứng dụng vào hoạt động ngân hàng. Vì vậy đã có nhiều doanh nghiệp, cá
nhân mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng, làm cho lượng tiền gửi này ngày
càng gia tăng. Đó là những nguồn vốn dùng để cho vay hết sức quan trọng của
ngân hàng, đồng thời lợi nhuận thu về từ nguồn vốn này cũng ngày càng tăng.
- Tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp,
chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà khoảng thời gian này được
xác định trước. Do đó cá doanh nghiệp thường gửi vào ngân hàng dưới hình
thức tiền gửi có kỳ hạn. Phần lớn các nguồn tiền gửi này xuất phát từ nguồn tích
luỹ của các doanh nghiệp mà có. Về ngun tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra
khi đến hạn và được hưởng số tiền lãi trên số tiền gửi đó. Nhưng hiện nay để thu
hút vốn nhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, các NHTM cho
phép khách hàng rút tiền ra trước thời hạn. Trong trường hợp này khách hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
khơng được hưởng lãi hoặc chỉ được hưởng theo lãi suất của tiền gửi khơng kỳ
hạn.
Do tính chất của loại tiền vốn tương đối ổn định, ngân hàng có thê sử
dụng phần lớn số dư loại nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn. Nếu nguồn
vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động sẽ tạo điều kiện
thuận lợi, chủ động của ngân hàng trong q trình kinh doanh, các NHTM
thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi của khách hàng.
Hiện tại các NHTM có các loại tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6
tháng 9 tháng, 1 năm, 2 năm. Với mỗi một kỳ hạn khác nhau thì ngân hànng áp
dụng một loại lãi suất khác nhau. Thơng thường thì thời hạn càng dài thì lãi suất
càng cao. Các NHTM thường khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn
dài, vì loại tiền này tương đối ổn định, ngân hàng sẽ chủ động trong kinh doanh.
Để thu hút được nhiều nguồn vốn dài hạn thì tốc độ phát triển nền kinh tế phải
ổn định, giá trị đồng tiền được đảm bảo, lạm phát vừa phải (thường là một con
số một năm) và tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng có hiệu quả.
* Tiền gửi tiết kiệm dân cư:
Tiển gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi các nhân được gửi vào
Ngân hàng, nhằm hưởng lãi suất theo qui định. Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu
nhập bằng tiền gửi của cá nhân chưa sử dụng được gửi vào tổ chức tín dụng. Nó
là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Khi gửi tiền
người gửi tiền được giao một sổ tiết kiệm coi như một giấy chứng nhận tiền gửi
vào Ngân hàng. Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận một khoản tiền
lãi trên tổng số tiền gửi tích kiệm.
Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là:
- Tiền gửi tiết kiệm khơng kỳ hạn.
Loại tiền gửi này người gửi tiền có thể rút ra một phần hoặc tồn bộ số
tiền gửi bất kỳ lúc nào. Nhưng khác với loại tiền gửi thanh tốn, người gửi tiền
khơng được sử dụng các cơng cụ thanh tốn để chi trả cho người khác, lãi suất
tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn và phần lớn những người gửi tiền tiết kiệm là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét