Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Tiền gửi tại ngân hàng bao gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ
hạn.
* Tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào
và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi không kỳ
hạn có lãi suất thấp và bao gồm hai loại:
Tiền gửi thanh toán:
Về mặt pháp lý, khi gửi tiền không kỳ hạn theo tài khoản thanh toán thể
hiện một hợp đồng mặc nhiên giữa khách hàng và ngân hàng. Trong đó, ngân
hàng phải có trách nhiệm thực hiện các khoản chi trả cho khách hàng một
cách kịp thời và chính xác. Tài khoản sử dụng cho tiền gửi thanh toán được
gọi là tài khoản giao dịch hay tài khoản séc vì rằng phần lớn các khoản giao
dịch thông qua tài khoản này được thực hiện bằng séc.
Đối với loại tiền gửi này, mục đích gửi là nhằm đảm bảo an toàn về tài
sản và thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng. Khách hàng không có ý định để giành hoặc không chú trọng đến tiền
lãi. Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thức tiền tệ
khác và thích thanh toán bằng séc hơn là dùng tiền mặt. Khả năng tiện lợi của
tiền gửi không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào mạng lưới tổ chức và
hoạt động của NHTM đã phát hành ra nó.
ở Việt Nam, tài khoản tiền gửi thanh toán được chia làm hai loại:
- Tài khoản thanh toán dùng cho các doanh nghiệp: Tài khoản này
không được hưởng lãi trực tiếp mà người gửi chỉ hưởng lãi gián tiếp thông
qua các dịch vụ miễn phí của ngân hàng.
- Tài khoản thanh toán dùng cho cá nhân: Tài khoản này được ngân
hàng trả lãi nhưng lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này thấp hơn lãi suất tiền
gửi định kỳ.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý:
Nguyền Thị Thuý Hiền 5 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách
hàng, họ gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất phục vụ thanh toán mà
nhằm mục đích an toàn tài sản. Khi cần khách hàng có thể đến ngân hàng rút
ra để chi tiêu.
* Tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách
hàng và ngân hàng. Theo nguyên tắc, đối với loại tài khoản này, khách hàng
chỉ được rút tiền khi đáo hạn.
Khác với tài khoản thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn là tiền tạm thời nhàn
rỗi hoặc là tiền để giành của cá nhân. Vì vậy, mục đích gửi tiền vào ngân
hàng là nhằm tìm kiếm lợi tức. Đối với các ngân hàng, tiền gửi có kỳ hạn là
nguồn vốn tương đối ổn định trong kinh doanh, do đó lãi suất mà các ngân
hàng chi trả cho loại tiền gửi này cao hơn lãi suất chi trả cho tiền gửi thanh
toán. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hoá loại tiền gửi này
bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng
nhu cầu của mọi khách hàng. Và để khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn
dài, ngân hàng thường áp dụng nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
Tiền gửi có kỳ hạn có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc thả nổi. Nếu áp
dụng lãi suất thả nổi thì lấy lãi suất liên ngân hàng làm cơ sở cho việc xác
định lãi suất.
Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền gửi định kỳ
đó là tiền gửi định kỳ theo tài khoản và tiền gửi định kỳ dưới hình thức phát
hành kỳ phiếu ngân hàng.
b.HĐV qua tiền gửi tiết kiệm.
Xét về mặt bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân, người lao
động chưa sử dụng cho tiêu dùng. Họ gửi tiền vào ngân hàng với mục đích
tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi
tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá
nhân.
Nguyền Thị Thuý Hiền 6 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Tiền gửi tiết kiệm được coi là công cụ HĐV truyền thống của NHTM.
Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể
trong tiền gửi ngân hàng. TGTK bao gồm TGTK không kỳ hạn và TGTK có
kỳ hạn.
* TGTK không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào
song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.
Tuy nhiên, số dư tài khoản này thường không lớn nhưng ít biến động. Chính
vì vậy, đối với loại tiền gửi này, các NHTM thường phải trả lãi suất cao hơn
so với tiền gửi thanh toán. Đó là điều kiện để các NHTM có thể dễ dàng huy
động số vốn này.
* TGTK có kỳ hạn là khoản tiền có sự thoả thuận về thời hạn gửi và rút
tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Khách hàng chỉ
được rút tiền ra khi đến hạn. TGTK có nhiều kỳ hạn khác nhau, thường là 3
tháng, 6 tháng, 12 tháng. Tuy nhiên, để tăng sức cạnh tranh trong thu hút tiền
gửi, ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn và khách hàng chỉ
được hưởng lãi suất không vượt quá lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi là nguồn vốn lớn nhất của NHTM. Việc duy trì và mở rộng
tiền gửi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh và gia
tăng lợi nhuận của ngân hàng. Vì lý do đó, các ngân hàng đã tập trung nỗ lực
trong việc khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội.
c. HĐV qua việc phát hành GTCG.
Các GTCG là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn
trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho mục đích
nào đó. Các GTCG do NHTM phát hành gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ
tiền gửi có mệnh giá.
Chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định; trái
phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Cả hai loại phiếu nợ này đều do
NHTM phát hành từng đợt. Mỗi lần phát hành phải được phép của NHNN
hoặc Uỷ ban chứng khoán quốc gia.
Nguyền Thị Thuý Hiền 7 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu
ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy
động. Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự
có hoặc vốn huy động tiền gửi không đủ. Như vậy, khi thực hiện HĐV dưới
hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối
lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn, phương pháp huy động. Vốn này chỉ
huy động trong một thời gian nhất định và khi đã huy động đủ khối lượng vốn
theo dự kiến thì ngân hàng sẽ dừng việc bán kỳ phiếu, trái phiếu.
Để đạt được hiệu quả trong công tác HĐV, ngân hàng phải có chiến
lược thích hợp, phù hợp với khả năng, mục tiêu chiến lược kinh doanh của
mình. Các ngân hàng cần nghiên cứu kỹ các hình thức huy động vốn để tìm ra
những biện pháp hợp lý nhằm thu hút được nhiều nhất nguồn vốn trong xã
hội.
ở nước ta, những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2006, vốn huy
động của các NHTM có tốc độ tăng trưởng cao. Theo số liệu thống kê cho
thấy, tính đến hết tháng 12/2006, ước tính tổng nguồn vốn huy động của các
NHTM và TCTD trên địa bàn Hà Nội đạt 231799 tỷ đồng, tăng 32,3% so với
cuối năm 2005, mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2001 đến nay; số dư
nguồn vốn huy động từ dân cư tăng tới31,8%. Cũng tính đến hết năm 2006,
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tổng nguồn vốn huy động của các
NHTM và TCTD ước tính đạt 259705 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cuối năm
2005, tăng gấp hơn 1,5 lần so với mức dự kiến từ đầu năm, đạt mức tăng
trưởng cao nhất từ trước đến nay. Như vậy, cuối năm 2006 tổng số dư vốn
huy động chỉ ở riêng hai thành phố nói trên sẽ bằng số dư vốn huy động của
các NHTM và TCTD trong cả nước cách đây hơn một năm.
1.1.2. Vai trò của VHĐ.
Nguồn vốn huy động có một số đặc điểm sau:
Nguyền Thị Thuý Hiền 8 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Thứ nhất, đó là nguồn vốn huy động chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân hàng vừa là người "cung cấp" đồng
vốn, vừa là người "tiêu thụ" đồng vốn của khách hàng. Theo thống kê, nguồn
vốn huy động chiếm khoảng 80% - 85% tổng nguồn vốn và ngân hàng hoạt
động chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động này.
Thứ hai, với nguồn vốn này ngân hàng sẽ chủ động hơn về thời gian và
khối lượng vốn cần huy động. Khi ngân hàng cần vốn cho hoạt động kinh
doanh của mình, thông qua chính sách lãi suất và nhiều biện pháp khác như
quảng cáo, khuyến mại…ngân hàng sẽ huy động được nguồn vốn theo mục
đích của mình với thời hạn đã được xác định trước, có thể là ngắn hạn, dài
hạn tuỳ theo nhu cầu cấp bách của ngân hàng. Ngân hàng sẽ chủ động hơn
trong việc xác định chi phí trả lãi. Hơn thế, do việc chủ động trong nguồn vốn
đầu vào nên ngân hàng cũng sẽ chủ động trong đầu ra của mình. Hoạt động
cho vay của ngân hàng phải đảm bảo sự cân xứng trong cấu trúc kỳ hạn giữa
nguồn vốn và sử dụng vốn. Ngân hàng chủ động trong việc đưa ra lãi suất huy
động thì sẽ chủ động đưa ra lãi suất cho vay để đảm bảo ngân hàng có lãi.
Thứ ba, đây là nguồn vốn có chất lượng, có chi phí ổn định. Chi phí của
ngân hàng cho nghiệp vụ huy động vốn chính là chi phí trả lãi. Lãi suất huy
động thường ổn định và chỉ dao động chút ít nếu thị trường có nhiều biến
động lớn. Trong kỳ hạn đã xác định trước của nguồn vốn thì chi phí trả lãi là
cố định hàng tháng.
Với đặc điểm như vậy, ta thấy VHĐ đóng vai trò quan trọng đối với
mọi hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó sẽ cho phép ngân hàng thực hiện
các nghiệp vụ của mình như cho vay, đầu tư, …và thu lợi nhuận. Nói cách
khác, nguồn vốn này quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
dụng - là mảng kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
NHTM với chức năng tập trung vốn và phân phối lại nhu cầu của nền
kinh tế, sẽ mở rộng được các hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm,
Nguyền Thị Thuý Hiền 9 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng
uy tín cho mình thông qua nguồn VHĐ dồi dào.
Các ngân hàng thực hiện cho vay, thanh toán, đầu tư và một số nghiệp
vụ khác chủ yếu dựa trên nguồn vốn huy động được. Chính vì vậy, khi quyết
định cấp một khoản tín dụng, tiến hành một kế hoạch đầu tư hay giản đơn chỉ
là mua sắm một trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh, các ngân
hàng đều phải xem xét trên cơ sở cân đối giữa việc mở rộng tài sản đó với khả
năng đáp ứng của nguồn vốn. Ngoài ra, nguồn vốn huy động lớn sẽ góp phần
đảm bảo uy tín và tăng cường năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị
trường.
Với những vai trò hết sức quan trọng như vậy, các ngân hàng luôn tìm
cách đưa ra những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ người
gửi tiền đến việc sử dụng nguồn vốn đó một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các
nhà quản trị ngân hàng cũng luôn tìm cách đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù
hợp với tình hình chung của nền kinh tế. Đó là một trong những điều kiện tiên
quyết để đưa ngân hàng đến thành công.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn.
Môi trường kinh doanh là yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của
mỗi ngân hàng. Để có thể tồn tại và phát triển, các ngân hàng cần phải thích
nghi với những biến đổi của môi trường kinh doanh. Nó bao gồm rất nhiều
yểu tố đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng
vừa chịu ảnh hưởng của các yếu tố đó đồng thời cũng tác động trở lại môi
trường kinh doanh. Công tác huy động vốn là một trong những hoạt động cơ
bản của ngân hàng, nó cũng chịu ảnh hưởng của những nhân tố đó và tựu
chung lại đó là hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố mang tính khách quan và
nhóm nhân tố mang tính chủ quan.
a. Nhân tố khách quan.
* Hành lang pháp lý.
Nguyền Thị Thuý Hiền 10 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Hành lang pháp lý được xây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích và bảo
quản tài sản của toàn xã hội. Một hành lang pháp lý hoàn chỉnh hay thiếu
hoàn chỉnh có tác động trực tiếp đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt
động huy động vốn nói riêng. Những bộ luật điều chỉnh trực tiếp tới hoạt
động huy động vốn của NHTM là luật TCTD, Luật NHNN…, những luật này
quy định tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có, quy định việc
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…Ngoài ra còn có những bộ luật tác động gián
tiếp đến hoạt động ngân hàng như luật đầu tư nước ngoài…
Bên cạnh những bộ luật đó thì chính sách tiền tệ quốc gia cũng ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của các NHTM. Trước hết thể
hiện ở mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tuỳ thuộc vào mục tiêu của chính sách
tiền tệ trong từng thời kỳ mà sự ảnh hưởng của nó đến hiệu quả huy động vốn
là khác nhau. Chẳng hạn, khi nền kinh tế lạm phát cao, NHNN thực hiện
chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền
ngoài xã hội thì lúc đó ngân hàng sẽ huy động vốn dễ dàng hơn và ngược lại,
khi nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân
hàng khó huy động vốn hơn vì người có tiền nhàn rỗi, họ bỏ tiền vào sản xuất
có lợi hơn gửi ngân hàng.
Ngoài ra, hiệu quả huy động vốn còn tuỳ thuộc vào chính sách đầu tư
của nhà nước. Chính sách đầu tư của nhà nước hợp lý hay không hợp lý đều
ảnh hưởng đến chính sách huy động vốn của ngân hàng. Bởi vì trên thực tế
những chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường kinh doanh
không chỉ đối với khách hàng mà cả đối với ngân hàng.
* Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội.
Tình hình kinh tế - xã hội ổn định hay không ổn định sẽ có tác động
mạnh mẽ tới nền kinh tế nói chung mà hoạt động ngân hàng nói riêng. Nền
kinh tế đang ở thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển tạo điều kiện tích luỹ
nhiều hơn nên sẽ tăng khả năng huy động vốn của ngân hàng. Trái lại, khi nền
kinh tế suy thoái, sản xuất bị kìm hãm, lạm phát gia tăng làm cho môi trường
Nguyền Thị Thuý Hiền 11 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp lại do các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, do đó
việc huy động vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn. Như vậy, sự biến
động của nền kinh tế là mang tính chất chu kỳ nên ngân hàng cần có kế hoạch
về vốn và sử dụng vốn hợp lý.
Tình hình chính trị của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng lớn tới mọi
lĩnh vực của đất nước trong đó có cả hoạt động của ngân hàng. Khi nền chính
trị ổn định thì người dân mới có sự tin tưởng vào hệ thống tài chính và khi đó
họ mới gửi khoản tiền nhàn rỗi của mình vào ngân hàng. Ngược lại, khi
chính trị không ổn định, đất nước bị khủng hoảng hay có chiến tranh thì ngân
hàng sẽ khó khăn hơn trong việc huy động vốn.
* Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền.
Thói quen tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân
hàng. Nếu ở những vùng dân cư quen sử dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất
trữ thì việc huy động vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn. Ngược lại,
nếu người dân thích sử dụng các hình thức thanh toán qua ngân hàng thì cơ
hội huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng lên.
Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến sự biến động ra vào
của các nguồn tiền. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của ngân hàng có tác dụng
làm ổn định lượng tiền gửi vào và rút ra. Còn trong điều kiện nền kinh tế mất
ổn định hoặc có tin đồn thất thiệt sẽ gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng dẫn
đến hiện tượng rút tiền hàng loạt. Do đó, các ngân hàng phải nắm bắt được
các yếu tố tâm lý của người dân, từ đó đưa ra các hình thức huy động phù hợp
để thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế.
* Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác.
Hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới ngày càng lớn mạnh với sự ra đời
của hàng loạt các ngân hàng mới và xu thế toàn cầu hoá nền tài chính quốc tế.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của các ngân hàng và sự tham gia vào lĩnh
vực ngân hàng của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã tạo ra một sức ép
cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là trong hoạt động huy động vốn của
Nguyền Thị Thuý Hiền 12 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
NHTM. Ngay cả trong cùng hệ thống ngân hàng hiện nay cũng có sự cạnh
tranh gay gắt, các NHTM không ngừng tăng lãi suất tiền gửi, cung cấp các
tiện ích tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao dịch giữa khách hàng và
ngân hàng. Mặt khác, cùng với sự tham gia vào việc thu hút lượng tiền nhàn
rỗi trong xã hội của các tổ chức tài chính như: bưu điện, bảo hiểm,…nguồn
vốn càng trở nên khan hiếm hơn. Với áp lực cạnh tranh thúc đẩy các ngân
hàng không ngừng hiện đại hoá, đa dạng hoá danh mục sản phẩm, tạo ra được
những lợi thế cạnh tranh và hoà nhập với nền tài chính thế giới. Cạnh tranh
cũng là động lực giúp ngân hàng khẳng định vị thế của mình và đóng vai trò
như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ trong tương lai.
b. Nhân tố chủ quan
* Hình thức huy động.
Hình thức huy động của ngân hàng càng phong phú, đa dạng, linh hoạt
và thuận tiện thì khả năng thu hút vốn trong nền kinh tế càng lớn. Chính sự đa
dạng của các hình thức huy động sẽ giúp cho mỗi người dân, mỗi doanh
nghiệp lựa chọn được hình thức đầu tư phù hợp với khả năng của mình.
Chẳng hạn, ngân hàng có thể huy động tiền gửi tiết kiệm bằng cách đưa ra
nhiều thời hạn khác nhau để phù hợp với mục đích sử dụng khác nhau của
khách hàng.
* Chính sách lãi suất huy động.
Đối với các khách hàng khác nhau thì mục đích gửi tiền vào ngân hàng
cũng khác nhau. Nếu khách hàng là doanh nghiệp, mục đích của họ là thanh
toán qua ngân hàng chứ không phải lãi suất. Tuy nhiên, một số bộ phận thì
mục đích của họ là hưởng lãi nên lãi suất là vấn đề họ quan tâm hàng đầu. Vì
vậy, để tạo được nhiều vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của mình thì các
ngân hàng phải có chính sách hợp lý sao cho lãi suất huy động vừa đảm bảo
thu hút và duy trì sự ổn định khối lượng tiền gửi của khách hàng, vừa phù hợp
với lãi suất cho vay để ngân hàng có lãi. Hiện nay, một số ngân hàng để thu
hút khách hàng gửi tiền đã sử dụng lãi suất rất linh hoạt như chia nhỏ lãi suất
Nguyền Thị Thuý Hiền 13 Lớp NHB – CĐ2A
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
theo nhiều thời hạn khác nhau. Tuy nhiên, nếu sử dụng chính sách lãi suất
bằng cách tăng lãi suất tiền gửi liên tục có thể không mang lại hiệu quả như
mong muốn mà chi phí huy động lại cao. Do đó, ngân hàng phải hoạch định
chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với sự biến động của thị trường và mục
tiêu của ngân hàng trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, ngân
hàng và người sử dụng vốn.
* Năng lực của cán bộ ngân hàng.
- Con người là yếu tố quyết định thành công của hoạt động quản lý,
sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội. Để có thể đạt được mục tiêu đề ra
thì các tổ chức phải chú trọng đến công tác phát triển nguồn nhân lực, ngành
ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ. Đặc biệt trong công tác huy động vốn
thì năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng có ảnh hưởng rất
1.3.3.1. Kế toán HĐV qua tài khoản tiền gửi của TCKT, cá nhân.
a. Thủ tục mở tài khoản.
Đơn vị TCKT, cá nhân muốn mở tài khoản tại ngân hàng phải có tư
cách pháp nhân hoặc thể nhân, thể hiện hạch toán kế toán độc lập. Việc chọn
lựa ngân hàng để mở tài khoản và số lượng tài khoản là quyền của khách
hàng.
Khi có nhu cầu, khách hàng phải đến lập thủ tục tại bộ phận tiền gửi.
Tại đây, kế toán giao dịch sẽ cấp phát và hướng dẫn khách hàng lập các giấy
tờ cần thiết
- Đối với khách hàng là TCKT: khách hàng phải có quyết định thành
lập doanh nghiệp, giấy phép đăng ký kinh doanh hợp lệ, hợp pháp do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp.
Khi mở tài khoản, khách hàng phải điền đầy đủ thông tin vào mẫu đơn
xin mở tài khoản tại ngân hàng bao gồm tên đơn vị, số đăng ký kinh doanh,
mẫu chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng hoặc những người được chủ
tài khoản, kế toán trưởng uỷ quyền, mẫu con dấu đơn vị…
Nguyền Thị Thuý Hiền 14 Lớp NHB – CĐ2A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét