Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty TNHH 4P

lý vụ kiện tại nớc mình hoặc lựa chọn nớc thứ ba có hệ thống pháp luật không gây
thiệt hại khi khởi kiện . Để tránh bị thiệt hại cho quốc gia và bị động, ngành pháp
luật cần ban hành những bộ luật mới nhằm hoàn thiện hệ thống luật pháp buôn bán
với nớc ngoài ; những bộ luật trên phải phù hợp với thông lệ quốc tế và điều ớc
quốc tế . Ngoài ra, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc thuận lợi trong
trao đổi thơng mại quốc tế bản thân Chính phủ cần tăng cờng công tác ngoại giao
nhằm ký kết các bản tơng trợ t pháp - đây là biện pháp tạo niềm tin giữa các doanh
nghiệp hai nớc và cùng nhau thống nhất khi giải quyết các vụ kiện quốc tế .
Xuất khẩu góp phần thu ngoại tệ mạnh
Việc đẩy mạnh xuất khẩu để thu ngoại tệ rất có ý nghĩa đối với các quốc gia
đang phát triển . Các quốc gia trên đang có nhu cầu rất lớn về vốn cho phát triển
kinh tế , nhu cầu này trải rộng trên nhiều lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến nhu cầu
mua sắm hàng hoá tiêu dùng chuyên dụng hay nguyên vật liệu cho sản xuất . Đứng
trớc nhu cầu lớn đòi hỏi phải có nguồn vốn dồi dào để đáp ứng kịp nhu cầu kiến
thiết đất nớc . Nhng hầu hết các quốc gia trên Thế Giới ở thời kỳ này đều vấp phải
việc thiếu vốn trầm trọng cho đầu t . Đứng trớc vấn đề trên các quốc gia chọn giải
pháp vay vốn nớc ngoài bên cạnh huy động nguồnvốn trong nớc . Nguồn vốn nớc
ngoài ở đây đợc huy động qua hai kênh : thu hút đầu t nớc ngoài ( bao gồm đầu t
trực tiếp và đầu t gián tiếp ) , vay nợ nớc ngoài . Trong đó, các khoản vay nợ nớc
ngoài thờng đổ vào các dự án đầu t cơ sở hạ tầng - bởi các dự án này đòi hỏi vốn
lớn , thời gian thu hồi vốn lâu mức rủi do cao. Các khoản vay này đều chịu lãi suất
và vay bằng ngoại tệ mạnh, để bảo đảm uy tín với nớc hoặc các tổ chức quốc tế
khác, những quốc gia trên phải trả lãi và gốc theo đúng hạn mà hai bên đã thoả
thuận . Để trả đợc các khoản nợ trên các quốc gia đang phát triển ngoài việc cân
bằng nội lực và ngoại lực, còn phải thu hút ngoại tệ mạnh và đảm bảo tỷ lệ dự trữ
ngoại tệ cao nhằm trả nợ . Ngoài ra nhu cầu mua sắm nguyên vật liệu vật t và trang
thiết bị máy móc cao nên nhu cầu ngoại tệ là rất lớn . Để thực hiện trang trải nhu
5
cầu trên chỉ có xuất khẩu mới thu hút đợc ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế và xây dựng đất nớc.
1.2 Các hình thức xuất khẩu
Đã có nhiều định nghĩa về xuất khẩu nhng tựa chung xuất khẩu là hàng háo
của quốc gia đợc bán và trao đổi cho các cá nhân , tổ chức , doanh nghiệp của nớc
ngoài thu ngoại tệ . Để hiểu đợc nội dung của xuất khẩu ta xét đến một số hình
thức xuất khẩu sau :
Tái xuất khẩu : trong đó hàng hoá đi từ nớc xuất khẩu đến nớc tái xuất
khẩu , rồi lại đợc xuất khẩu từ nớc tái xuất khẩu sang nớc nhập khẩu , hình thức
này lợi nhuận cao nhng nớc tái xuất khẩu cũng nhận rủi ro cao . Tính u việt của
hình thức tái xuất tạo thêm nhiều công ăn việc làm trong nớc và phát triển các
ngành hỗ trợ bổ xung,bên cạnh đó cũng bộc lộ những bất cập nh có một bộ phận
lao động trong nớc lại phụ thuộc vào hình thức tái xuất khẩu
Chuyển khẩu : là hình thức hàng hoá đợc chuyển thẳng từ nớc xuất khẩu
sang nớc nhập khẩu thông qua nớc thứ ba- làm khâu trung gian trong quá cảnh
hàng hoá . Về mặt u điểm chuyển khẩu không chịu rủi ro cao nh tái xuất khẩu, tạo
thêm công ăn việc làm trong nớc ở ngành vận tải và tạo điều kiện phát triển thị tr-
ờng tài chính do có sự chu chuyển hàng hoá nên thờng kèm theo giao dịch tiền tệ
Xuất khẩu tại chỗ : đây là hình thức xuất khẩu mới lạ sự ra đời loại hình
xuất khẩu này gắn liền với sự phát triển ngành công nghiệp du lịch và hoạt động
đầu t ra nớc ngoài mạnh mẽ của các tập đoàn đa quốc gia.
Xuất khẩu trực tiếp : là hàng hoá của các doanh nghiệp trong nớc đợc đem
bán trực tiếp với nớc ngoài không thông qua sự hỗ trợ của bất kỳ quốc gia khác về
mặt vận chuyển .
Xuất khẩu uỷ thác : là loại hình xuất khẩu thông qua đối tác thứ ba loại
xuất khẩu này tính ổn định trong xuất khẩu không cao do bị lệ thuộc vào đối tác .
6
Hình thức hàng đổi hàng : đây cũng là biện pháp xuất khẩu nhng thờng áp
dụng cho những quốc gia có quan hệ mang tính đặc biệt, hàng hoá thờng không đ-
ợc trao đổi tự do mà dựa trên thoả thuận đã đợc đàm phán từ trớc rao đổi ngang
giá trị .
Nh vậy đi đến kết luận xuất khẩu là : bán hàng sảnxuất trong nớc xuất gỉa
khỏi biên giới hoặc bán hàng ngay tại quốc gia mình cho tổ chức hoặc cá nhân
mang hàng ra biên giới kinh tế .
2 . sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm trong ngành
công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam .
2.1 Vai trò của ngành công nghiệp tàu thủy đối với nền kinh tế quốc dân.
a . Vị trí của ngành công nghiệp tàu thuỷ trong nền kinh tế quốc dân .
Nghị quyết 03/NQ-TW ngày 6/5/1995 của Bộ Chính trị Ban chấp hành
Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ :
Ví trí và đặc điểm địa lý của nớc ta, cùng với bối cảnh phức tạp trong
vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế
biển đi đôi với tăng cờng khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ
tài nguyên và môi trờng sinh thái biển. Phấn đấu trở thành một nớc mạnh về
kinh tế biển.
Để có thể trở thành một nớc mạnh về kinh tế biển chúng ta phải có một
ngành công nghiệp tàu thủy (CNTT) đủ mạnh, trong phạm vi nhất định có sức cạnh
tranh quốc tế, làm hạ tầng cần thiết cho một số ngành kinh tế biển nh vận tải, khai
thác các tài nguyên trong lòng biển nh dầu khí, hải sản, các khoáng sản quý Hơn
thế nữa, còn phát triển để tạo nên lực lợng đủ sức bảo vệ chủ quyền lãnh hải và các
vùng đặc quyền kinh tế trên biển.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng đã có chỉ rõ
7
"Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp nặng, năng lợng, nhiên
liệu, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, luyện kim hoá
chất " và sau đó đã khẳng định "Phát triển mạnh công nghiệp đóng và sửa chữa
tàu thuỷ "
(1)
Phải nói rằng Đảng và Nhà nớc ta đã có chủ trơng đúng khi định hớng phát
triển mạnh ngành CNTT do xác định đúng tầm quan trọng của ngành trong xây
dựng và bảo vệ đất nớc cũng nh kinh tế quốc gia, bởi :
CNTT là một ngành công nghiệp lớn góp phần tạo nên thị tr ờng
cho các ngành công nghiệp khác.
Công nghiệp tàu thuỷ thực ra là một ngành công nghiệp chế tạo tổng hợp.
Trong quá trình làm ra sản phẩm của mình nó sử dụng sản phẩm của hầu hết các
ngành công nghiệp khác nhau nh:
- Công nghiệp luyện kim, nh các sản phẩm thép tấm, thép hình, nhôm, đồng,
các loại hợp kim cờng độ cao
- Công nghiệp chế tạo máy, các thiết bị động lực và phụ trợ: nh các loại
động cơ điê-zel thuỷ, máy phát điện, cần cẩu, thiết bị cứu hoả, cứu sinh
- Công nghiệp điện, điện tử: nh thiết bị thông tin liên lạc thuỷ, nghi khí hàng
hải, thiết bị điện
- Công nghiệp chế tạo chất dẻo, vật liệu tổng hợp, hoá chất nh: sơn, dung
môi, vật liệu composite
- Điều khiển tự động, tin học
Với việc đồng thời sử dụng sản phẩm của hầu hết các ngành nói trên làm vật
t đầu vào của mình ngành CNTT sẽ thúc đẩy các ngành công nghiệp đó cùng phát
triển. Hơn nữa, là một ngành công nghiệp liên ngành, khi phát triển CNTT sẽ trở
thành động lực thúc đẩy nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ khác phát triển nhanh
chóng, đồng bộ ; từ khâu nghiên cứu, thiết kế đến kiểm định kỹ thuật và ứng dụng
công nghệ mới. Bản thân CNTT cũng là ngành công nghiệp chế tạo thu hút nhiều
8
lao động kỹ thuật và là ngành tạo ra giá trị doanh thu rất lớn; nhất là khi sản phẩm
của nó đạt đợc trình độ xuất khẩu .
ở hầu hết các nớc có CNTT phát triển, song song với hệ thống các nhà máy
đóng và sửa chữa tàu đợc xây dựng, các ngành công nghiệp khác cũng phát triển,
chuyên môn hoá các cơ sở sản xuất của mình để cung ứng sản phẩm cho ngành
CNTT. Ví dụ nh các xí nghiệp sản xuất động cơ điêzel thuỷ, thiết bị điện tàu thuỷ,
sơn tàu thuỷ Chỉ tính riêng ở Nhật Bản năm 2000 doanh số xuất khẩu các mặt
hàng maý móc, thiết bị tàu thuỷ đã đạt giá trị 164,274 tỉ yên/tổng doanh số
870,129 tỉ yên
(2)
Phát triển ngành CNTT gắn liền với thực hiện chiến l ợc kinh tế biển
quốc gia .
Căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu giai đoạn 1993-2001, trong
đó mức tăng GDP là 7,5%/năm và dự báo cho giai đoạn 2003-2010 là 7%/năm, Bộ
giao thông vận tải tại "Báo cáo Chiến lợc quốc gia phát triển GTVT đến 2010 &
định hớng phát triển đến 2020-Tháng 3-2002" đã đa ra nhu cầu phát triển phơng
tiện vận tải thuỷ từ nay đến năm 2010-2020 nh sau:
- Đội tàu vận tải :
Bảng 1: Dự báo nhu cầu Tàu các loại của Việt Nam 2010-2020
Chỉ tiêu
phát triển
Loại phơng tiện
Đơn vị
ở năm
2010
ở năm
2020
- Đội tàu viễn dơng Triệu DWT 2,415 5,650
Đội tàu biển - Đội tàu ven biển Triệu DWT 0,825 1,556
- Trong đó trọng tải Triệu DWT 10.000 15.000
9
bình quân
DWT/chiếc
Đội tàu - Trọng tải Triệu DWT 1,929 3,00
sông - Công suất Triệu mã
lực
2,313 3,650
- Tàu chở khách Triệu ghế 0,320 0,480
Nguồn : Master Plan for Rehebitation of Coastal Transportrtion of Vietnam , 1999
- Đội tàu công trình :
Dự báo khối lợng thi công, nạo vét tạo bãi ở năm 2002 là khoảng 30 triệu
m
3
/năm và ở năm 2010 khoảng 60 triệu m
3
/năm. Do đó trong mỗi năm đội tàu
cuốc hút sông, cửa biển và ven biển cần tăng cờng tổng năng suất bổ sung từ
10.000m
3
/h tới 15.000m
3
/h. Bên cạnh các tàu cuốc, tàu hút còn phải có các tàu xây
dựng công trình biển nh tàu khoan, sà lan đóng cọc, tàu lắp đặt dàn khoan, cần cẩu
nổi, tàu thả phao và lắp đặt đờng ống Dự báo đội tàu công trình ở năm 2002 cần
có 40 chiếc các loại với năng suất cuốc, hút là 40.000m
3
/h và có tổng công suất là
200.000 mã lực. ở năm 2010 đội tàu này sẽ tăng lên 120 chiếc với năng suất cuốc
hút là 120.000m3/h và có tổng công suất là 800.000 mã lực. Trung bình mỗi năm
cần bổ sung một thủy đội công trình gồm 12 tàu các loại với tổng công suất từ
40.000 - 60.000mã lực(CV).
- Đội tàu khai thác và dịch vụ dầu khí :
Dự kiến sản lợng khai thác dầu khí của nớc ta (chủ yếu trên biển) sẽ là 20
triệu tấn vào năm 2002, 25 triệu tấn vào năm 2007. Nh vậy, căn cứ kế hoạch dự
kiến này, để phục vụ cho nhiệm vụ thăm dò, xây dựng công trình khai thác dầu khí
với mức tăng sản lợng từ 1.000.000T đến 2.000.000T/năm, hàng năm cần bổ sung
từ 2 đến 3 chiếc tàu dịch vụ dầu khí với tổng công suất khoảng 20.000CV; lắp đặt
thêm 5 dàn khoan khai thác và bổ sung từ 1 đến 2 kho chứa dầu nổi. Tổng số tàu
dịch vụ khai thác dầu khí đến năm 2002 phải có 60 chiếc và đến năm 2010 cần 120
chiếc
(5)(6)(15)
.
- Đội tàu đánh bắt cá xa bờ:
10
Đây là nhu cầu hết sức cấp bách đối với ngành thủy sản của nớc ta. Việc
phát triển đội tàu này không những đáp ứng tốt cho việc khai thác nguồn lợi bãi
sâu xa bờ tại các vùng biển và thềm lục địa mà còn đáp ứng đợc yêu cầu về an ninh
quốc phòng trong chiến lợc kinh tế biển của chúng ta. Hàng năm, chúng ta cần
phải đóng bổ sung hàng nghìn tàu đánh cá xa bờ có công suất từ 90 đến 600 sức
ngựa. Phục vụ cho chơng trình đánh cá xa bờ mỗi năm Chính phủ đầu t từ nguồn
Quỹ hỗ trợ đầu t cho ng dân và các công ty đánh cá vay khoảng 600 tỉ VNĐ để đầu
t cho đóng tàu
(5)(9)(15)
.
- Đội tàu du lịch ven biển, sông, vùng hồ:
Bao gồm các loại du thuyền, các loại tàu chở khách ven biển sẽ đợc bổ sung
và ngày một gia tăng cùng với nhu cầu đi lại và sự mở mang của ngành du lịch
biển và các vùng hồ. Dự kiến mỗi năm sẽ bổ sung từ 5000 tới 8000 số ghế hành
khách với tổng trọng tải khoảng 30.000T ở năm 2002 và 60.000T ở năm 2010
(6)(9)
(15)
.
- Đội tàu quân sự :
Để đảm bảo khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia và vùng đặc quyền kinh
tế, cần bổ sung hàng năm: 5000DWT trọng tải tàu vận tải quân sự, 1 đến 2 tàu chở
quân hoặc đổ bộ, 1 đến 2 tàu tuần dơng, 2 đến 4 tàu tên lửa kiêm săn ngầm, 4 đến
6 tàu tuần tiễu. Ngoài ra lực lợng hải quân cần phải đợc trang bị thêm các tàu: 1
tàu chỉ huy đô đốc, 2 tàu đo đạc trinh thám, 10 tàu đổ bộ siêu tốc, 2 tầu huấn luyện
đa năng. Đến năm 2007 cần có 170 chiếc và năm 2010 cần có 600 chiếc tàu chiến
các loại
(6)(9)(15)
.
- Đội tàu tuần tra ven biển và nội địa :
Phục vụ các lực lợng biên phòng, hải quan, cảnh sát biển, cảnh sát đờng
thủy, kiểm ng, thuế vụ v.v Hàng năm cần khoảng: 4 đến 6 tàu tuần tra ven biển
với công suất 2000 - 6000 sức ngựa; 20 đến 30 tàu tuần tra cửa biển, trong sông,
với công suất đến 2000 sức ngựa; 30 canô tuần tra vỏ nhôm, với công suất đến
1000 sức ngựa; 30 canô tuần tra vỏ nhựa với công suất đến 500 sức ngựa. Đến năm
2007 cần có 280 tàu và năm 2010 có 600 tàu tuần tra các loại .
11
- Dự báo nhu cầu sửa chữa tàu các loại :
Trong những năm tới CNTT sẽ đảm nhận hầu hết các nhu cầu sửa chữa cho
đội tàu trong nớc. Ngoài ra sẽ đảm nhận các kế hoạch sửa chữa cho nớc ngoài.
Bảng 2 : Dự báo nhu cầu sửa chữa tàu 2002-2010
Đơn vị:1.000.000USD
Các nhiệm vụ sửa chữa
Năm 2002 Năm 2010
Nhu
cầu
toàn
bộ
Khả
năng
trong
nớc
Nhu
cầu
toàn
bộ
Khả
năng
trong
nớc
1. Nhu cầu sửa chữa toàn bộ đội tàu
Việt Nam (lấy 3% giá trị đội tàu
hàng năm).
400 200 1.600 1.200
2. Sửa chữa tàu cho nớc ngoài. 60 300
3. Sửa chữa tàu tại các nhà máy liên
doanh.
200 2.000
Tổng cộng 400 460 1.600 3.500
Nguồn : Quy hoạch ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010- Trang 1
- Sản xuất kết cấu thép và các mặt hàng phi tiêu chuẩn :
cho các nhà máy đang và sẽ đợc xây dựng nh: Nhiệt điện, xi măng, đờng,
hóa chất, các công trình dầu khí trên biển v.v đang có nhu cầu rất lớn. Hàng năm
Việt Nam cần chế tạo hàng vạn tấn kết cấu thép này.
- Xây dựng công trình biển và công trình công nghiệp :
Đây là khối lợng công việc rất lớn trong thời kỳ đẩy mạnh đầu t cơ sở hạ
tầng nh: Cảng biển nớc sâu, các nhà máy đóng tàu, các công trình biển phục vụ an
ninh quốc phòng, đờng xá, cầu cống v.v
Tổng giá trị hàng hóa (cả đóng mới và sửa chữa) từ nay tới năm 2007 là
2.240 triệu USD, trong đó đóng mới là 1.960 triệu USD và sửa chữa là 460 triệu
USD. Tới 2010 có thể đạt tới 6.000 triệu USD. Trong đó giá trị đóng mới là
4.000 triệu USD, giá trị sửa chữa là 2.000 triệu USD
(6)(9)(15)
.
12
Nh vậy có thể nói tuỳ theo mức độ tăng cờng về cơ sở vật chất kỹ thuật, các
cơ sở CNTT của ta nếu đợc đầu t thoả đáng thì từ nay đến năm 2010 có thể tạo ra
đợc một khối lợng giá trị hàng hoá về đóng mới, sửa chữa tàu thuyền các loại là 6
tỷ USD .
Thực tế, trong những năm vừa qua, xét trên số liệu tổng kết các kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh trong các năm 1998/1999/2000 của riêng Tổng công ty
CNTT Việt Nam có thể thấy mức tăng trởng bình quân của các đơn vị trực thuộc là
30%/năm. Doanh thu của Tổng công ty trong 2 năm gần đây đạt gần 1000 tỷ
VNĐ/năm. Trong phơng án kinh doanh cho giai đoạn kế hoạch 2002-2007 Tổng
công ty đề ra mục tiêu Tổng giá trị sản lợng khoảng 14.197 tỷ VNĐ; Bình quân
năm là 2.330 tỷ VNĐ, hay tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm sẽ là 30-35%.
Nếu xem xét các số liệu trên trong khung cảnh một nền kinh tế có cơ cấu
không cân đối nh của Việt Nam hiện nay, khi thu nhập quốc dân chủ yếu là từ
nông nghiệp và xuất khẩu nguyên liệu thô hoặc làm hàng gia công, thì mỗi đồng
thu nhập có đợc từ sản xuất công nghiệp; nhất là công nghiệp cơ khí là một điều rất
đáng khích lệ và tự hào .
Bảng 3 : Kết quả kinh doanh của Tổng cty CNTT Việt Nam
Giá trị sản lợng
(triệu đồng)
Sản phẩm
Chủ yếu
Tốc độ PT
(%)
Tốc độ PT
(%)
Năm 1998
426.000 Tàu
400-3.500T,
100%
Năm 1999
462.000 Tàu dầu 3500T,
nghiên cứu
biển
115%
Năm 2000
672.000 Tàu 6500T, ụ
nổi 8500T,
145%
Năm 2001
850.000
Tàu 6500T, ụ
nổi 8500T, 127%
Cộng :
2.410.000
13
B.quân/năm
602.500 130%
Nguồn : Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh và chơng trình phát triển giai đoạn
2002-2007 của TCty CNTT Việt Nam , Tháng 8/2001
Tóm lại, khả năng đóng góp của ngành CNTT đối với nền kinh tế quốc gia
là rất lớn và lâu dài, đây cũng là điểm thuận lợi cho việc xác định chiến lợc thị tr-
ờng cho ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam.
Ngoài ra, nh chúng ta đã biết để xây dựng đợc "quốc gia mạnh về kinh tế
biển" phát triển bền vững đòi hỏi phải có một ngành công nghiệp mang tính chất
hậu cần, đủ khả năng chủ động trong cung cấp một khối lợng lớn thiết bị, dịch vụ
có yêu cầu kỹ thuật cao, làm cơ sở hạ tầng. Trang thiết bị kỹ thuật đặc trng cho các
phân ngành kinh tế biển thờng tập trung cho các lĩnh vực nh:
Khảo sát và nghiên cứu biển,
Xây dựng các công trình biển,
Thăm dò khai thác tài nguyên biển, trớc tiên là thăm dò, khai thác dầu khí và
các nguồn lợi hải sản,
Vận tải biển và dịch vụ cảng,
Du lịch trên biển
Các trang bị này có nhiều nét khác biệt nhau; Nhng chiếm tỷ trọng nhiều nhất
vẫn là các phơng tiện chuyên chở, các loại thiết bị nổi có chung một cơ sở khoa
học và công nghệ là công nghiệp tàu thuỷ.
b . Tính tơng hỗ giữa ngành công nghiệp tàu thủy với các sản phẩm
ngành cơ khí .
Trong giai đoạn và vận hội mới của phát triển kinh tế ,Chính phủ đã xác định
ngành cơ khí vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá (CNH- HĐH) đất nớc .Với quan điểm và định hớng mới cho sản phẩm co
khí thay thế nhập khẩu , đồng thời chuyển dần trọng tâm sang xuất khẩu gắn chế
tạo cơ khí với cơ giới hoá nông nghiệp . Trong quá trình khôi phục ngành cơ khí có
tới 50,2% (trên tổng số 463 xí nghiệp ) là xí nghiệp cơ khí chế tạo . Đây là tiềm
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét