như quy mô kinh tế, mức độ mở cửa của nền kinh tế với bên ngoài, dân số của quốc
gia, các lợi thế về tự nhiên, nhân lực, điều kiện kinh tế, văn hoá Nhân tố quan trọng
góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó là quá trình chuyên môn hoá trong
phạm vi quốc gia và mở rộng chuyên môn hoá quốc tế và thay đổi công nghệ tiến bộ
kỹ thuật. Chuyên môn hoá mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng
công nghệ tiên tiến, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng suất lao động xã hội. Chuyên
môn hóa cũng tạo ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới. Tiến bộ khoa học kỹ
thuật, công nghệ lại thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa. Điều đó làm cho tỷ trọng
các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch vụ kỹ thuật mới tăng
trưởng nhanh chóng và dần chiếm ưu thế. Phân công lao động và sự tiến bộ kỹ
thuật, công nghệ ngày càng phát triển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho việc phát
triển thị trường các yếu tố sản xuất. Và ngược lại, việc phát triển thị trường các yếu
tố sản xuất lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và do vậy làm sâu
sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do
đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp
để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu
cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp với mục tiêu kinh tế- xã hội đã xác định
cho từng thời kỳ phát triển.
Thực chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các
ngành. Ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế
thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành có tốc độ thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng. Nếu tất
cả các ngành có cùng một tốc độ tăng trưởng thì tỷ trọng các ngành sẽ không đổi,
nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ ĐẾN CẦU
LAO ĐỘNG
Các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc điều chỉnh hợp lý cơ cấu kinh
tế của mình. Đối với các nước phát triển hàng đầu trên thế giới, với nền kinh tế công
nghiệp đã được phát triển từ đầu thế kỷ 20, thì mối quan tâm là tạo ra những lĩnh
vực công nghệ mới, có hiệu quả cao, đặc biệt là các công nghệ tiết kiệm tài nguyên,
Trang 5
bảo vệ môi trường. Việc thực hiện công nghệ này trước mắt có thể chưa thu được
lợi nhuận, nhưng trong tương lai thì lại là cơ sở để giành vị trí thống trị hoặc áp đảo
thị trường thế giới và khu vực. Để đổi mới công nghệ sản xuất, các nước công
nghiệp hoá tìm cách chuyển những công nghệ lạc hậu hoặc kém tính cạnh tranh sang
các nước kém phát triển hơn. Mặt khác, đối với những nước nghèo đang phát triển
như Việt Nam, cơ cấu kinh tế còn rất lạc hậu với phần lớn dân số lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ mới đang trên đà phát triển, đang rất
có nhu cầu tiếp nhận các công nghệ có trình độ thấp để từng bước tham gia vào thị
trường thế giới. Sự gặp gỡ giữa cung và cầu về công nghệ trình độ thấp đã thúc đẩy
quá trình chuyển giao công nghệ và đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển
làm thay đổi cơ cấu kinh tế tại Việt Nam ngày nay. Cơ cấu kinh tế thay đổi dẫn đến
sự thay đổi cơ cấu, tác động mạnh đến số lượng và chất lượng lao động, vì lao động
được xem là nguồn lực của quan trọng cho phát triển kinh tế. Kinh tế càng phát triển
thì khả năng thu hút sức lao động càng cao và ngược lại. Đối với những nước nghèo
đang trong quá trình chuyển dịch, cơ cấu kinh tế luôn biến đổi cho phù hợp với sự
phát triển của thế giới, thị trường luôn biến động thì thị trường lao động cũng biến
động không ngừng để đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế.
Trước hết, đó là sự chuyển dịch cơ cấu của ba nhóm ngành lớn theo hướng
tích cực, giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp và tăng tỷ trọng của công nghiệp và
dịch vụ đóng góp trong GDP. Theo đó, lao động trong ba nhóm ngành này cũng
phải chuyển dịch theo hướng giảm bớt tỷ trọng lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ
trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ. Muốn vậy, phải tăng trình độ trang bị
kỹ thuật trong nội bộ các nhóm ngành, đặc biệt là nông- lâm- ngư nghiệp, tăng
cường sử dụng những máy móc hiện đại để giảm bớt lao động, sử dụng những
giống cây trồng và vật nuôi cho năng suất cao để vẫn đảm bảo tăng trưởng đáp ứng
nhu cầu xuất khẩu. Lao động trong nông nghiệp sẽ được dịch chuyển vào công
nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, để làm được điều này phải nâng cao trình độ dân trí,
khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới của lao động dịch chuyển nói riêng và
dân cư nói chung. Lao động thủ công và bán cơ giới còn khá phổ biến nên năng suất
lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh
trên thị trường quốc tế, nhất là công nghiệp nhẹ, công nghiệp nông thôn còn nhỏ bé,
Trang 6
chưa phát triển tương xứng với tiềm năng nên chưa có sức thu hút lao động dư thừa
trong nông nghiệp. Sự tiếp thu công nghệ của thế giới, tiếp nhận đầu tư phải đi đôi
với việc phát triển và đào tạo một nguồn nhân lực tương xứng để sử dụng được
những công nghệ đó, có vậy thì công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới đạt được
hiệu quả.
Thứ hai, đó là sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần kinh tế cũng làm
cho thị trường lao động biến động. Thành phần kinh tế tư nhân tăng lên, thu hút
nhiều lao động ở nhiều trình độ giải quyết được khá lớn nhu cầu việc làm của nền
kinh tế. Mặt khác, thành phần kinh tế nhà nước chuyển biến về chất, làm dư thừa ra
một số lượng lao động dôi dư cũng là áp lực cho thị trường lao động. Thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng đòi hỏi lao động trình độ cao, với chuyên
môn kỹ thuật và trình độ quản lý đáp ứng được yêu cầu hội nhập.
Cơ cấu kinh tế thay đổi dẫn đến nhu cầu về lao động cũng thay đổi theo.
Trong khi đó, nguồn cung lao động tăng lên không ngừng tạo ra áp lực lớn cho cầu
lao động. Vì vậy, việc phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với việc tăng cầu lao động,
tập trung vào những ngành có thể thu hút được nhiều lao động, tạo được nhiều việc
làm cho nền kinh tế, đồng thời cũng phù hợp với công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là vấn đề vô cùng quan trọng của nước ta hiện nay.
PHẦN HAI
THỰC TRẠNG CƠ CẤU CẦU LAO ĐỘNG
I.CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động trong 3 ngành kinh tế lớn là giảm dần tỷ
trọng lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch
vụ.
Bảng 1: Cơ cấu lực lượng lao động có việc làm trong 3 khu vực kinh tế:
Trang 7
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Nông- lâm-
ngư nghiệp
68,96 65,76 66,14 64,08 62,61 62,76 61,14 58,35
Công nghiệp
và xây dựng
10,88 12,14 11,64 12,43 13,1 14,42 15,05 16,96
Dịch vụ 20,06 22,1 22,22 23,49 24,28 22,82 23,81 24,69
Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100
Nguồn:Số liệu thống kê lao động việc làm 1996-2003,NXB Thống kê
Cơ cấu việc làm vẫn có sự chênh lệch rất lớn giữa ba khu vực, trong đó
nông- lâm- ngư nghiệp vẫn cao nhất, tiếp đến là dịch vụ, và thấp nhất là công nghiệp
và xây dựng, ta thấy lao động đã có sự dịch chuyển nhưng tốc độ vẫn còn chậm và
việc tăng giữa các ngành không ổn định.
Sau 8 năm, ta mới di chuyển được 10,61% lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ, trong đó công nghiệp chỉ tăng lên được 6,08%, dịch vụ tăng
được 4,63%, sự chuyển dịch này còn chậm. So với cơ cấu lao động của các nước
phát triển hầu hết lao động đều nằm trong dịch vụ (Mỹ 72,8% , Nhật 60,7% năm
1995), còn lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp (Mỹ 2,9%, Nhật
5,7% năm 1995); so với một nước đang phát triển như Thái Lan thì 42,95% lao
động là nằm trong dịch vụ, chỉ có 40,35% lao động trong nông nghiệp năm 1996 thì
ta thấy xu hướng nhu cầu lao động của ngành dịch vụ là rất lớn nhưng ta chưa thể
tận dụng được. Thậm chí, việc tăng lao động giữa các ngành cũng không ổn định,
năm 2000 và 2001 lao động trong nông nghiệp tăng (từ 62,61% lên 62,76%) còn lao
động trong dịch vụ lại giảm (24,28% xuống 22,82%). Nguyên nhân của tình trạng
này là tốc độ phát triển của ngành dịch vụ có xu hướng giảm, do sau khi nền kinh tế
mở cửa đã tiếp nhận đủ các lĩnh vực dịch vụ phù hợp với trình độ phát triển của nó,
và mức sống dân cư còn chưa cao nên khả năng phát triển các loại dịch vụ đa dạng
khác chưa nhiều. Trong tương lai, bên cạnh việc đẩy nhanh quá trình mở cửa và hội
nhập kinh tế quốc tế để đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, tạo sự phát triển theo
chiều sâu thì chúng ta vẫn cần thúc đẩy các lĩnh vực dịch vụ chủ chốt ( như bưu
chính viễn thông ) phát triển, qua đó nâng cao tỷ trọng của ngành dịch vụ trong
GDP. Lao động trong nông- lâm- ngư nghiệp phải tiếp tục giảm, nhờ việc đầu tư kỹ
thuật canh tác và máy móc hiện đại vào sản xuất nông nghiệp. Lao động trong công
nghiệp và xây dựng giữ mức độ tăng chậm và ổn định, do xu hướng đổi mới công
Trang 8
nghệ trong công nghiệp dẫn đến sử dụng ít lao động hơn những công nghệ cũ nhưng
đòi hỏi trình độ của lao động phải được nâng cao.
I.1.CẦU LAO ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP
Bảng 2: Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên trong nông nghiệp
thời kỳ 1996-2003:
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Lượng lao động 23431 22589 23018 22863 22670 23648 24023 23099
Nguồn:Số liệu thống kê lao động việc làm 1996-2003,NXB Thống kê
Cầu lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm chậm dần nhưng số
lượng tuyệt đối vẫn lớn và tăng giảm không ổn định. Số lao động có việc làm trong
nông nghiệp giảm từ 23,43 triệu người năm 1996 xuống còn 23,1 triệu người năm
2003, giảm 0,33% cả thời kỳ, trung bình mỗi năm giảm 47 nghìn người, tương
đương với 0,25%/năm. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch còn rất chậm, trong từng thời
kỳ, số lượng lao động tăng giảm không ổn định, không đáp ứng được yêu cầu giảm
tuyệt đối số lượng lao động trong nông nghiệp theo mục tiêu công nghiệp hoá- hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Đến nay, cơ cấu kinh tế, lao động nông thôn đã chuyển dịch từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp với tốc độ 1 đến 1,5%/năm. Năm 1994, cơ cấu kinh tế nông
thôn : 71% nông nghiệp và 29% công nghiệp và dịch vụ ; đến năm 2001, các tỷ lệ
trên là 62% và 38%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 80% xuống 70% và lao
động phi nông nghiệp tăng từ 20% lên 30%. Trong đó, số lượng và tỷ trọng các
nhóm hộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng, dịch vụ đã tăng lên, số hộ
công nghiệp và xây dựng tăng từ 1,6% năm 1994 lên 5,8% năm 2001, số hộ dịch vụ
tăng từ 6,4% lên 11,2% trong cùng kỳ. Như vậy, quá trình công nghiệp hoá- hiện đại
hoá nông thôn đã làm giảm số lượng và tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng số
lượng và tỷ trọng lao động phi nông nghiệp ; từ đó tăng năng suất lao động, tăng thu
nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các hộ nông thôn.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng của các ngành cũng thay đổi theo
hướng tăng số lượng và tỷ trọng lâm nghiệp thuỷ sản, giảm số lượng và tỷ trọng
nông nghiệp. Kết quả là tạo ra nền nông nghiệp đa ngành, cơ cơ cấu kinh tế phù hợp
với điều kiện đất đai rừng biển, địa hình, khí hậu và trình độ dân cư xoá bỏ tính
Trang 9
thuần nông trong nội bộ ngành nông- lâm- ngư nghiệp. Kéo theo đó là cơ cấu hộ
nông, lâm thuỷ sản cũng có sự thay đổi.
Mô hình kinh tế trang trại, nhất là trang trại hộ gia đình đã có sự phát triển và
trở thành mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế. Số liệu của tổng cục thống
kê cho thấy đến 1/10/2001 cả nước có 60758 trang trại (tăng 4906 trang trại so với
năm 2000, tăng 8,78%), sử dụng 369 ngàn ha đất và mặt nước, thu hút được 375
ngàn lao động, bình quân 1 lao động 0,984 ha. Trong đó, số lao động của hộ chủ
trang trại là 169 ngàn (chiếm 45%) và 206 ngàn lao động làm thuê ngoài (chiếm
55%). Thu nhập của các trang trại năm 2000 là 1905,8 tỷ đồng, bình quân một trang
trại là 31,4 triệu đồng/năm, thu nhập một nhân khẩu một tháng đối với nhân khẩu là
chủ trang trại là 584 ngàn đồng/ tháng, gấp 2,5 lần thu nhập bình quân một người
một tháng khu vực nông thôn.
Những hạn chế của cầu lao động trong nông nghiệp:
Phần lớn lực lượng lao động vẫn nằm đọng trong khu vực nông nghiệp, trong
khi tỷ lệ đóng góp của khu vực này trong GDP liên tục giảm ( từ 27,76% năm 1996
xuống 22,54% năm 2003) gây sức ép lớn cho việc giải quyết việc làm cho lao động
dư thừa. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 72,28% năm 1996 lên
77,66% năm 2003, tức là tỷ lệ lao động ở nông thôn thiếu việc làm vẫn còn rất cao
(22,34%). Việc tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động còn diễn ra rất chậm, do tình
trạng sản xuất nhỏ, manh mún, tự cấp tự cung tự phát vẫn còn phổ biến. Sản xuất
hàng hoá và ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp vẫn phát triển chậm chưa tạo ra
thị trường để thu hút lao động trong nông nghiệp. Do vậy, tình trạng thiếu việc làm
cao và khó có khả năng giảm nhiều trong những năm tới.
Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người còn thấp. Số diện tích đất
nông nghiệp được sử dụng trên cả nước năm 2003 là 9406,8 nghìn ha, như vậy bình
quân 1 lao động 0,41 ha, hay bình quân 2 ha đất có 5 lao động sử dụng. Trong tương
lai, để phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, việc đầu tư kỹ thuật canh tác và đưa
máy móc vào sử dụng trong nông nghiệp sẽ càng làm giảm số lao động cần thiết
trên 1 ha đất, như vậy số lao động thiếu việc làm càng nhiều.
Mô hình kinh tế trang trại tuy đã phát triển nhưng quy mô của trang trại còn nhỏ
(bình quân 6,2 lao động/trang trại), phần lớn lao động sử dụng lại là lao động phổ
Trang 10
thông, giản đơn nên năng suất còn thấp. Các trang trại mới chỉ giải quyết được việc
làm cho 1,6% lao động trong nông nghiệp, tiềm lực kinh tế chưa lớn, quan hệ tín
dụng chậm phát triển, hơn nữa trình độ quản lý, trình độ tổ chức và trình độ kỹ thuật
của nhiều chủ trang trại còn thấp nên khả năng phát triển nhanh mô hình này còn
hạn chế.
Bên cạnh đó, tình hình thiên tai, nhất là hạn hán đã ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất nông nghiệp. Sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam cũng
có sức cạnh tranh thấp, không đảm bảo yêu cầu về chất lượng quốc tế, dẫn đến sự
chuyển dịch lao động nông nghiệp nông thôn rất khó khăn.
I.2. CẦU LAO ĐỘNG TRONG CÔNG NGHIỆP
Bảng 3: Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên trong công nghiệp
Nguồn:Số liệu thống kê lao động việc làm 1996-2003,NXB Thống kê
Cầu lao động trong công nghiệp có xu hướng tăng nhanh và tăng ổn định. Số
liệu cho thấy, từ năm 1996 đến năm 2003 số việc làm do công nghiệp tạo ra là 0,43
triệu, cả thời kỳ là 3,03 triệu, tốc độ tăng việc làm hàng năm là 8,8%. Tính cả thời
kỳ, số lượng việc làm do công nghiệp tạo ra chiếm khoảng 58,9% tổng số việc làm
mới của nền kinh tế (cả thời kỳ nền kinh tế tạo ra được 5,6 triệu việc làm mới),
trong khi số lao động trong công nghiệp chỉ chiếm 16,96% trong tổng số lao động
có việc làm của nền kinh tế. Có được điều này là do tỷ trọng công nghiệp trong
GDP có sự chuyển biến tích cực, từ 29,73% năm 1996 đến 39,47% năm 2003, trung
bình mỗi năm tăng 16,9%. Điều này thể hiện chủ trương công nghiệp hoá- hiện đại
hoá nền kinh tế của Đảng và Nhà nước ta đã đi đúng hướng, trong đó chú trọng phát
triển các ngành sử dụng nhiều lao động; đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có
công nghệ hiện đại, công nghệ cao; phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản,
thuỷ sản, may mặc, một số sản phẩm cơ khí, điện tử, phần mềm; đồng thời xây dựng
công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các
ngành kinh tế, quốc phòng.
Trang 11
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Lượng lao động 3698 4169 4049 4435 4744 5432 5912 6713
Các ngành sử dụng nhiều lao động gồm có: Công nghiệp dệt may, da giày,
công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản. Các ngành này vừa thu hút được một lực
lượng lao động đáng kể vừa là nguồn tiêu thụ các sản phẩm của các ngành nông
nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản phục vụ xuất khẩu, là hướng đi cơ bản của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Bảng 4: số lao động làm việc trong các ngành công nghiệp tại thời điểm 1/7
Ngu ồn: www.gso.gov.vn
Sử dụng nhiều lao động nhất vẫn là ngành công nghiệp chế biến, với 3,33
triệu người, chiếm 70,2% lao động của các ngành công nghiệp; tiếp đến là ngành
xây dựng 1,068 triệu người, chiếm 22,67% tổng số lao động; ngành khai thác mỏ
0,2 triệu người, chiếm 4,83%; thấp nhất là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt
và nước 0,085 triệu người, chiếm 2,3%. Về lượng tăng trưởng nhiều nhất là công
nghiệp chế biến, tăng 688,2 nghìn người, trung bình mỗi năm tăng hơn 98 nghìn
người; xây dựng tăng 275,3 nghìn người, mỗi năm tăng hơn 39 nghìn người; sản
xuất phân phối điện, khí đốt và nước tăng 7,5 nghìn người, trung bình tăng hơn 1
nghìn người/năm; chỉ có ngành khai thác mỏ giảm 14,5 nghìn người, trung bình 2
nghìn người/năm. Về tốc độ tăng trưởng, ngành xây dựng lại là ngành có tốc độ
tăng nhanh nhất với 4,35% mỗi năm, ngành chế biến 3,36%, ngành sản xuất phân
phối điện, khí đốt và nước 1,3%, ngành khai thác mỏ giảm 1%.
Để đạt được sự tăng trưởng cầu lao động trong công nghiệp như vậy, không
thể không kể đến sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN-KCX).
Các KCN-KCX đã giải quyết việc làm cho một bộ phận không nhỏ những người lao
động ở khắp mọi miền đất nước, nhất là những lao động phổ thông ở vùng sâu vùng
xa. Tính đến năm 2004, ở Việt Nam có 106 khu công nghiệp được thành lập, ngoài
Trang 12
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Công nghiệp chế biến
242.0 237.5 233.0 228.5 224.0 219.3 227.5
Công nghiệp khai thác mỏ 2643.
3 2752.12860.52971.43088.73207.83331.5
Sản xuất phân phối điện, khí đốt và
nước 77.7 78.2 78.6 78.9 79.3 79.5 85.2
Xây dựng
792.7 819.9 848.6 878.3 908.4 938.8 1068.1
ra còn có 124 cụm khu công nghiệp, khu công nghiệp vừa và nhỏ nằm rải rác ở 19
địa phương trong cả nước. Các KCN-KCX đã thu hút được 1442 dự án của các nhà
đầu tư từ hơn 40 nước và vùng lãnh thổ và 1422 dự án đầu tư trong nước. Các
KCN-KCX đã tạo việc làm ổn định cho gần 60 vạn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu
lao động gián tiếp. Do duy trì việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động
nên các KCN-KCX đã góp phần xoá đói giảm nghèo ở nhiều vùng nông thôn vốn
trước đây chỉ trông chờ vào sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, trong môi trường sản
xuất công nghiệp, kỹ năng làm việc và trình độ chuyên môn của người lao động
được nâng cao, góp phần phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại.
Như vậy công nghiệp đã tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho nền kinh tế,
cùng với chính sách phát triển công nghiệp của Nhà nước hướng vào những ngành
công nghiệp sử dụng nhiều lao động, cầu lao động trong công nghiệp sẽ vẫn là một
nguồn thu hút sức lao động lớn của nền kinh tế, giải quyết việc làm cho một bộ phận
không nhỏ những lao động kỹ thuật hiện nay.
Tuy cầu lao động trong công nghiệp có tăng lên nhưng vẫn tiềm tàng những
yếu tố bất ổn trong việc sử dụng và thu hút lao động:
Nguyên nhân giảm lao động trong ngành khai thác mỏ (cụ thể là than đá), một phần
do hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, một phần khác là ngành này là ngành
lao động nặng nhọc, độc hại nhưng thu nhập thấp (khoảng 800-900 nghìn đồng)
khiến người lao động không thể trụ nổi.
Lao động trong ngành chế biến như may mặc, da giày tuy có tăng do phát
triển sản xuất nhưng đặc thù là sản xuất theo mùa nên tỷ lệ biến động lao động lớn.
Một doanh nghiệp có 5000-6000 công nhân thì hàng năm trung bình khoảng
1000-2000 công nhân thường xuyên ra vào, tỷ lệ ra đi thường chiếm 10-20% số
công nhân hiện có. Thu nhập của những ngành này cũng nằm trong nhóm những
ngành có thu nhập thấp (khoảng 900 nghìn đồng), công việc vất vả nên tuy cầu lao
động lớn, cung lao động thừa nhưng vẫn xảy ra tình trạng thiếu nhân lực. Do vậy,
biện pháp của các ngành này là đổi mới công nghệ để giảm thiểu lao động. Đây là
một biện pháp không thể thực hiện được ngay nhưng chắc chắn là một biện pháp lâu
dài trong tương lai, vì vậy việc tạo việc làm trong các ngành này trong tương lai sẽ
không còn thuận lợi như trước nữa.
Trang 13
Tốc độ phát triển của các khu công nghiệp tập trung, khi chế xuất diễn ra quá
nhanh tuy có tác dụng giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động nhưng ngược
lại dẫn đến việc mất đất canh tác, số lao động mất việc làm vì thế cũng tăng nhanh,
dẫn đến việc tình hình giải quyết việc làm ở khu vực đô thị ngày càng khó khăn.
Theo ước tính của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội trong 5 năm tới có tới 50
vạn lao động nông nghiệp cần được dạy nghề và bố trí việc làm do mất đất canh tác.
I.3.CẦU LAO ĐỘNG TRONG DỊCH VỤ
Bảng 5:Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên thời kỳ 1996-2003:
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Lượng lao động 6898 7593 7734 8382 8792 8597 9354 9773
Trang 14
Lượng
lao
động
1995
Lượng
lao
động
2001
Lượng
tăng
tuyệt
đối
Tốc độ
phát
triển
(%)
Thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ,
mô tô,xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình
1936.5 2903.6 967.1 6.98
Khách sạn và nhà hàng
522.4 715.8 193.4 5.39
Vận tải; kho bãi và thông tin liên lạc
761.2 1025.9 264.7 5.10
Tài chính, tín dụng 67.9 78.8 10.9 2.51
Hoạt động khoa học và công nghệ
37.1 33.4 -3.7 -1.73
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài
sản và dịch vụ tư vấn
62.6 119.3 56.7 11.35
QLNN và ANQP, đảm bảo xã hội bắt buộc
842.5 936.7 94.2 1.78
Giáo dục và đào tạo
844.6 994.3 149.7 2.76
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
234.4 254 19.6 1.35
Hoạt động văn hoá và thể thao
63.3 75.1 11.8 2.89
Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội
107.3 154 46.7 6.2
Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng
197.3 292.4 95.5 6.78
Hoạt động làm thuê công việc gia đình
trong các hộ tư nhân
61.4 74.1 12.7 3.18
Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể
quốc tế
1.6 1.8 0.2 1.98
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét