Ngoài sự phân biệt rõ ràng như vậy, do mức độ phát triển của CTCK
và TTCK mà có thể có thêm các bộ phận khác như: mạng lưới chi nhánh,
văn phòng trong và ngoài nước, văn phòng đại lý…
1.1.4 Hoạt động của các công ty chứng khoán
1.1.4.1 Hoạt động nghiệp vụ
• Nghiệp vụ môi giới chứng khoán: Môi giới chứng khoán là hoạt
động kinh doanh chứng khoán trong đó CTCK đại diện cho khách hàng giao
dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường
OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế
của việc giao dịch ấy.
Nghiệp vụ môi giới có 2 nhiệm vụ chính là:
+ Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư, cung cấp cho
khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các kiến nghị đầu tư
+ Nối liền những người bán và những người mua: Đem đến cho
khách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
• Nghiệp vụ tự doanh: tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao
dịch mua bán chứng khoán cho chính mình.
• Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành: Để thực hiện các đợt chào bán
chứng khoán ra công chúng đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các
CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng
khoán ra công chúng. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các
CTCK và là nghiệp vụ chiếm doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của
công ty chứng khoán.
• Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Đây là nghiệp vụ quản lý
vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục
đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng.
• Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: Cũng như các loại hình
tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là công việc CTCK thông qua hoạt
động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể
5
thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan tới phát hành, đầu tư và
cơ cấu tài chính cho khách hàng.
• Các nghiệp vụ phụ trợ
+ Lưu kí chứng khoán: Là việc lưu giữ, bão quản chứng khoán của
khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Khi thực hiện dịch
vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản thu
phí lưu kí chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
+ Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất việc từ
việc lưu kí chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõi
tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận
và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản mở của khách hàng.
+ Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các thị trường chứng khoán phát triển,
bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa
hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng
thực hiện giao dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để
khách hàng thực hiện nghiệp vụ mua ký quĩ.
+ Nghiệp vụ quản lý quỹ: ở một số TTCK, pháp luật còn cho phép
CTCK được quản lý được thực hiện nghiệp vụ quản lý quĩ đầu tư. Theo đó,
CTCK cử đại diện của mình để quản lý quĩ đầu tư. Theo đó, CTCK cử đại
diện của mình để quản lý quĩ và sử dụng vốn và sử tài sản của quĩ để đầu tư
để đầu tư . CTCK được thu phí dịch vụ quản lý quĩ đầu tư
1.1.4.2 Hoạt động tài chính
. Hoạt đông tài chính của công ty bao gồm các hoạt động chính như
sau:
• Vốn của CTCK : Vốn của CTCK nhiều hay ít phụ thuộc vào tài sản
cần tài trợ, mà các tài sản này được quyết định bởi nghiệp vụ mà nó thực
hiện ,như bảo lãnh phát hành, tự doanh chứng khoán là hình thức kinh
doanh rất cần nhiều vốn, bởi vì CTCK cần phải duy trì số lượng các các loại
chứng khoán mà bản thân giá của các công cụ thị trường vốn (cổ phiếu, trái
6
phiếu) thì luôn biến động mạnh, còn hoạt động môi giới, thực hiện quản lý
tiền, tư vấn… thì không cần vốn lớn. Vì vậy hoạt động tài chính vốn CTCK
là làm thể nào có một cơ cấu vốn hợp lý (tỷ lệ nợ và vốn chủ hợp lý…) và
tìm kiếm các nguồn tài trợ cho vốn của công ty (phát hành cổ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ quĩ …).
• Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Trong quản lý vốn của công
ty ngoài việc xác định tỷ lệ cơ cấu vốn như trên, các CTCK cần phải duy trì
một mức vốn khả dụng để dảm bảo khả năng thanh toán cho nhà đầu tư.
Ngoài ra công ty còn phải trích thêm phần trăm lãi ròng hàng năm lập quĩ bổ
sung vốn điều lệ cho tới khi bằng một mức phần trăm nào đó của vốn điều
lệ. Quỹ này sẽ được bù đắp các thâm hụt trong tương lai.
• Kế toán công ty: Kế toán công ty là một hệ thống chức năng cung
cấp các thông tin tài chính hữu hiệu cho việc ra các quyết định kinh doanh
và kinh tế, thông qua việc ghi chép, sắp xếp hệ thống, chuyển giao các hoạt
động tài chính của một công ty.
1.1.5 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán
1.1.5.1 Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán
• Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi
đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
• Cung cấp cơ chế giá cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá
hoặc khớp lệnh)
• Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng
khoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ
dàng)
• Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự
doanh hoặc vai trò tạo lập thị trường ).
7
1.1.5.2 Vai trò của các công ty chứng khoán
Với những chức năng cơ bản như trên, CTCK có vai trò quan trọng
đối với những chủ thể khác nhau trên TTCK.
• Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu tham gia của TTCK của
các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng
khoán.
• Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư
vấn đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó
nâng cao hiệu quả đầu tư.
• Đối với TTCK thì công ty chứng khoán có hai vai trò chính:
Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường.
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
• Đối với các cơ quan quản lý thị trường. CTCK có vai trò cung cấp
thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường.
Tóm lại CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai trò
cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các
cơ quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung.
1.2 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH NGÀNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Khái niệm phân tích ngành
Phân tích ngành là việc sử dụng các mô hình để phân tích sự ảnh
hưởng của mỗi ngành nghề đến những biến động của thị trường, hay của nền
kinh tế. Đây là bước phân tích để chúng ta tiến tới có thể đưa ra những lựa
chọn công ty, hay loại cổ phiếu nhất định cho một danh mục đầu tư an toàn
mà vẫn đảm bảo khả năng sinh lời
1.2.2 Vị trí và mục đích phân tích ngành của công ty chứng khoán
1.2.2.1 Vị trí của hoạt động phân tích ngành trong công ty chứng
khoán
Phân tích ngành là một nghiệp vụ chính trong phòng phân tích và
nghiên cứu trong công ty chứng khoán. Đây là một bộ phận của kế hoạch ba
8
bước phân tích thiết yếu đã được xác lập. Phân tích ngành là bước thứ hai để
chúng ta tiến tới lựa chọn các công ty nhất định và những cổ phiếu nhất định
cho danh mục đầu tư của chúng ta.
Phân tích ngành không phải một nghiệp vụ trực tiếp đem lại doanh
thu cho các công ty chứng khoán. Nó cũng không có vị trí quan trọng tới
mức các công ty chứng khoán không thể không thực hiện nghiệp vụ này.
Phân tích ngành đơn giản là một nghiệp vụ phân tích bổ trợ hỗ trợ cho các
hoạt động nghiệp vụ doanh thu khác được tốt hơn.
1.2.2.2 Mục đích của hoạt động phân tích ngành trong công ty
chứng khoán
• Đối với hoạt động tự doanh: Giao dịch tự doanh là các giao dịch
bằng chính nguồn vốn kinh doanh của công ty nhằm phục vụ mục đích đầu
tư kinh doanh thu lợi cho chính mình. Có thể nói, khi thực hiện hoạt động tự
doanh thì các công ty chứng khoán cũng đóng vai trò của nhà đầu tư mua
bán cổ phiếu nhằm mục đích kiếm lời. Do đó họ cũng cần có nhiều thông tin
để ra quyết định. Thông tin ngành là một trong những thông tin quan trọng.
Việc phát triển hoạt động phân tích ngành sẽ giúp công ty có nhiều thông tin
để ra quyết định hơn.
• Đối với động môi giới: Hoạt động phân tích ngành giúp cung cấp
thông tin cho các nhân viện môi giới để họ có thể có sự tư vấn đầy đủ thông
tin hơn đến khách hàng. Những khách hàng đến với công ty chứng khoán
không chỉ vì mục đích giao dịch, họ còn có nhu cầu được tư vấn. Những
nhóm khách hàng lai thường rất khác nhau về phương thức đầu tư cũng như
mức độ ưa thích rủi ro. Những bài bình luận cũng như các thông tin truyền
thông khác không đủ để họ có được quyết định đầy đủ thông tin nhất. không
kể đến điều kiện khả năng cập nhật và tổng hợp thông tin của họ. Do đó một
công ty cung cấp hoạt động môi giới tốt hơn sẽ có khả năng lôi kéo khách
hàng lớn hơn.Việc phân tích ngành nhằm mục đích cung cấp thông tin để
nâng cao chất lượng môi giới của công ty chứng khoán.
9
• Đối với hoạt động quản lý danh mục đầu tư: Hoạt động phân tích
ngành cũng không có mục địch khác ngoài giúp cung cấp thông tin cho hoạt
động này hoạt động hiệu quả hơn
1.2.3 Quá trình phân tích ngành
Quá trình này bao gồm:
• Phân tích tổng quát ngành: Việc này giúp ta nhận biết được chu kỳ
kinh doanh và yếu tố thị trường có tác động như thế nào tới sự phát triển hay
thất bại của ngành
• Phân tích vi mô ngành: Việc phân tích dựa vào các mô hình và số
liệu trong ngành
1.2.3.1 Phân tích tổng quan ngành
Bao gồm phân tích các nhân tố:
a. Chu kỳ kinh doanh và các bộ phận của ngành
b. Những thay đổi trong cấu trúc nền kinh tế và các ngành khác nhau
c. Xác định chu kỳ sống của ngành
d. Phân tích môi trường cạnh tranh trong một ngành
e. Chu kỳ kinh doanh và các bộ phận của ngành
f. Khuynh hướng thị trường có thể có hai dạng chính: Chu kỳ thay đổi
và Cấu trúc thay đổi
a. Chu kỳ kinh doanh chúng ta có thể nhận ra những ngành hàng hấp
dẫn các nhà đầu tư thông qua sự biến động của từng chu kỳ kinh doanh. Và
việc dự đoán được những thay đổi của những yếu tố kinh tế quan trọng tối
thiểu từ 3 đến 6 tháng trong tương lai là rất cần thiết trong hoạt động đầu tư.
b. Những thay đổi trong cấu trúc kinh tế và các ngành khác nhau
Sự thay đổi trong công nghệ, chính trị, môi trường pháp lý là những
yếu tố sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ dòng tiền và rủi ro tiềm năng của
mỗi ngành trong nền kinh tế.
Thành phần lao động
Phong tục của người dân
10
Sự phát triển của công nghệ
Tính ổn định của Chính trị và Luật pháp
c. Xác định chu kỳ sống của ngành
Khi dự đoán doanh thu và lợi nhuân ngành bắt buộc phải phân chia sự
phát triển của chu kỳ sống của ngành thành những giai đoạn khác nhau, từ
khi hình thành đến khi kết thúc. Thường, một chu kỳ sống của ngành được
phân chia thành 5 giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn bắt đầu phát triển
Giai đoạn tăng trưởng nhanh
Giai đoạn bắt đầu tăng trưởng chín muồi
Giai đoạn ổn định và tăng trưởng chín muồi
Giai đoạn tăng trưởng giảm
Đồng thời, việc phân tích chu kỳ sống của ngành cũng có thể cung
cấp một số dấu hiệu liên quan đến lợi ích biên và tỷ lệ tăng trưởng thu nhập.
Sau khi phân tích các yếu tố vĩ mô ta sử dụng các yếu tố môi trường
vĩ mô này xem xét ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
• Môi trường kinh doanh: Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu
tố, điều kiện kinh tế, chính trị pháp luật, công nghệ, văn hoá xã hội, chính
sách chế độ, thông lệ, phong tục sống tại mỗi quốc gia…và cả những điều
kiện, yếu tố của ngành và nội bộ từng doanh nghiệp đang tác động vào hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Môi trường kinh doanh là một yếu tố
quan trọng và luôn thay đổi, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải
thiện để thích nghi. Có thể chia môi trường kinh doanh thành hai nhóm: Vĩ
mô và vi mô (hay còn gọi là tổng quát và đặc thù).
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng
không nhất thiết phải theo một cách xác định. Còn môi trường vi mô là
những yếu tố ảnh hưởng tới một ngành cụ thể trong nền kinh tế.
• Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô bao gồm:
11
Yếu tố kinh tế :Đó là những tác động chung trong nền kinh tế, được
đo bởi các chỉ tiêu: tốc độ phát triển kinh tế, mức độ thu nhập, lạm phát, lãi
suất…
Yếu tố chính trị: Yếu tố này có vai trò định hướng, chi phối toàn bộ
hoạt động trong đó có hoạt động kinh doanh
Yếu tố pháp luật và chính phủ
Yếu tố văn hoá – xã hội: Các giá trị chung như phong tục tập quán,
tư tưởng tôn giáo, cơ cấu dân số, thu nhập…
Yếu tố tự nhiên: Nguồn tài nguyên, tình trạng môi trường, nguồn
năng lượng…
Yếu tố dân số, địa lý: Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn
nhân lực, khách hàng của doanh nghiệp.
Yếu tố ký thuật công nghệ: Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công
nghệ giúp các doanh nghiệp có những phát triển nhanh gấp nhiều lần so với
việc không sử dụng công nghệ mới.
Sử dụng mô hình năm nhân tố cuar Porter về phân tích ngành
Để tạo ra một chiến lược cạnh tranh thuận lợi, các doanh nghiệp phải
kiểm tra cấu trúc cạnh tranh cơ bản của chính mình bởi vì lơi nhuận tiềm
năng của một công ty bị ảnh hưởng lớn bởi lợi nhuận cạnh tranh của ngành.
Theo Porter, ông tin rằng, môi trường cạnh tranh của một ngành bao giờ
cũng bị ảnh hưởng bởi 5 yếu tố chính, và 5 lực lượng này trong cạnh
tranhlớn này định ra mức độ mạnh của sự cạnh tranh và ảnh hưởng của mỗi
nhân tố có thể thay đổi đột ngột trong số các ngành. Bao gồm:
Đối thủ tiềm năng tham gia vào ngành
Tác động của người mua
Tác động của người bán
Các đối thủ cạnh tranh lẫn nhau hiện tại trong ngành
Sản phẩm thay thế
12
1.2.3.2 Phân tích mô hình ngành
Quy trình phân tích
• Bước1: Xác định hệ số rủi ro bêta của ngành, từ đó tính toán lợi
suất yêu cầu theo công thức CAPM : E(R) = Rf + beta*(Rm – Rf)
Trong đó:
E(R) : lợi tức yêu cầu của ngành
Rf: Lợi tức phi rủi ro
Rm: Lợi tức trung bình của thị trường
• Bước 2: Phân tích chỉ số P/E của toàn ngành
Ta có thể phân tích từ hai góc độ: Xem xét mối quan hệ của P/E
ngành với P/E tổng thể thị trường hay Xem xét các nhân tố cơ bản của
ngành gây tác động trực tiếp tới P/E ngành như hệ số trả cổ tức, lợi suất yêu
cầu r và tỷ lệ tăng trưởng cổ tức
• Bước 3: ước tính thu nhập trên cố phiếu (EPS)
Việc ước tính này dựa trên phương pháp chủ yếu như phân tích chu
kỳ kinh doanh, phân tích đầu vào – ra, phân tích mối quan hệ giữa ngành và
trong nền kinh tế tổng thế.
• Bước 4: Tính giá trị của chỉ số ngành bằng cách nhân hệ số P/E
cuối kỳ tính toán được với ước tính thu nhập đầu cổ phiếu:
r =(giá trị chỉ số cuối kỳ- giá trị đầu kỳ+ cổ tức nhận trong kỳ)/giá trị đầu kỳ
• Bước 5: so sánh lợi suất đạt được r với lợi suất yêu cầu E(R).
Thông thường, nếu r>E(R) thì nên đầu tư vào ngành này.
Việc thực hiện đầy đủ quy trình trên sẽ rất thuận lợi nếu có sẵn số liệu
thống kê. Tuy nhiên, trong thực tế, việc có được đầy đủ các chỉ số một cách
chính xác là điều không tưởng. Tuy vậy, chúng ta có thể bắt đầu phân tích
mô hình DDM với 2 giai đoạn tăng trưởng cho ngành, sau đó, sẽ phân tích
mô hình dòng tiền tự do hoạt động FCFE, rồi các chỉ số P/E, P/BV, P/CF, P/
S.
Sử dụng mô hình DDM để xác định giá trị ngành
13
D1
Pi =
k-g
Trong đó: Pi: giá trị ngành i tại thời điểm t
D1: mức cổ tức dự tính của ngành i ở thời kỳ 1
Và hai yếu tố quan trọng nhất ở đây là k và g
Tỷ lệ lợi tức yêu cầu như ta biết là bị ảnh hưởng bở tỷ lệ RFR và tỷ lệ
lạm phát dự tính. Tuy vậy, sự khác biệt giữa các ngành trong phân tích là
mức bù đắp rủi ro. Trong đó, các nhân tố tác động đến mức bù đắp rủi ro
bao gồm: rủi ro kinh doanh (BR), rủi ro tài chính (FR), rủi ro thanh khoản
(LR), rủi ro tỷ giá (ER) và rủi ro chính trị (CR).
Mặt khác, ta có thể xác định mức bù rủi ro thông qua mô hình CAPM,
bởi mức bù rủi ro là một nhân tố trong rủi ro hệ thống bêta của tài sản.
Sử dụng mô hình FCFE để xác định giá trị ngành
Chúng ta có hai mô hình FCFE là :
Mô hình FCFE tăng trưởng ổn định
Mô hình tăng trưởng hai giai đoạn
Sử dụng các tỷ số để phân tích ngành
Trước tiên chúng ta sẽ nghiên cứu một cách kỹ lưỡng mô hình sử
dụng nhân tố P/E, sau đó sử dụng các chỉ số P/BV, P/CF, P/S.
Kỹ thuật số nhân thu nhập
Có 2 bước để ước tính EPS và P/E
Bước 1: Ước tính EPS của ngành
Đầu tiên, phải ước tính được doanh số bán hàng trên một cổ phiếu của
ngành. Việc phân tích các chỉ số của ngành buộc các nhà kinh tế phải nắm
rõ chu kỳ sống của ngành, xác định được ngành đang ở giai đoạn nào, và
những cấu trúc nào ảnh hưởng đến sự biến động của ngành thông qua:
- Phân tích thông tin trong quá khứ. Việc phân tích các thông tin,
số liệu trong quá khứ sẽ là nguồn rất quan trọng để ước tính được doanh số
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét