Chuyên đề tốt nghiệp
1997 chỉ đạt 174,9 tỷ đồng, tăng gần 8 lần so với năm 1993 (Biểu đồ 1). Đồng
thời, đây cũng chính là giai đoạn mà VPBank bộc lộ những dấu hiệu sai phạm
trong hoạt động quản lý và điều hành của mình Trong thời kỳ này, VPBank
chỉ thành lập được các chi nhánh TP.Hồ Chí Minh, chi nhánh Hải Phòng, chi
nhánh Đà Nẵng.
2. Giai đoạn 2: Từ năm 1997 – 2002
Trong giai đoạn này, VPBank rơi vào tình trạng trì trệ và hoạt động của
ngân hàng lâm vào khủng hoảng.
+Hoạt động của VPBank chỉ ở mức cầm chừng. Kinh doanh của ngân
hàng kém hiệu quả. Biểu hiện là nợ quá hạn ở mức báo động, L/C trả chậm
thì giải quyết rườm rà, chậm chạp.
+ Ngày 25/09/2002, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
chính thức ký quyết định đặt VPBank vào trạng thái kiểm soát đặc biệt
trong thời gian tối đa là 24 tháng.
+Năm 2003, vốn điều lệ theo sổ sách là 184,5 tỷ VNĐ, song việc nợ quá
hạn quá cao, thậm chí nhiều khoản không có khả năng thu hồi, chính vì thế
mà vốn điều lệ thực chất của VPBank ở mức “âm”. Trong thời gian này,
VPBank không được phép mở thêm bất cứ chi nhánh hay phòng giao dịch
nào. Đây là giai đoạn VPBank gặp nhiều khó khăn nhất, không chi nhánh
nào được mở thêm, vốn điều lệ thì vẫn giữ nguyên ở mức trước.
3. Giai đoạn 3: Năm 2003 đến nay
Ngân hàng có những biện pháp chấn chỉnh, mở rộng quy mô, nâng cao
chất lượng dịch vụ.
+Thời kỳ này, tình hình tài chính của ngân hàng được lành mạnh hóa. Sự cố
gắng của tập thể lãnh đạo, cán bộ và nhân viên ngân hàng đã từng bước khắc
phục được nợ đọng về tín dụng và bảo lãnh LC quá hạn trong thời kỳ trước.
+Năm 2004, VPBank đã quyết định tăng vốn điều lệ lên 198,3 tỷ VNĐ
theo quyết định 684/QĐ-HAN7 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Điều
này đã đánh dấu bước tiến mới cho giai đoạn này.
+Tháng 7/2004, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định dỡ bỏ
5
Chuyên đề tốt nghiệp
“Lệnh kiểm soát đặc biệt” đối với ngân hàng.
+20/9/2004: chính thức khai trương trang WEB VPBank.
+ 25/11/2004, theo công văn chấp thuận số 689/NHNN - HAN7, Ngân
hàng Nhà nước đã chấp thuận cho VPBank được nâng vốn điều lệ từ 170 tỷ
đồng lên 210 tỷ đồng.
+ Tháng 2/2005, theo công văn chấp thuận 134/NHNN-HAN7, VPBank
đã tăng vốn điều lệ lên 234,7 tỷ VNĐ.
+ Ngày 19/10/2005, biểu tượng mới của VPBank chính thức ra mắt trên
cơ sở màu xanh đậm và đỏ tươi làm tông màu chủ đạo, tượng trưng cho sự
trù phú, thịnh vượng và thành công.
+ 12/2005, VPBank đã tăng vốn điều lệ lên 309,4 tỷ VNĐ và vốn điều lệ
đã tăng lên 1000 tỷ đồng năm 2006
+ Ngày 07/11/2007, theo đề nghị của Ngân hàng OCBC, VPBank đã
chính thức đồng ý bán thêm cổ phần cho OCBC để nâng tỷ lệ sở hữu của
cổ đông chiến lược này tại VPBank từ 10% lên 15%. Thỏa thuận trên đã
được thực hiện ngay sau khi VPBank hoàn thành việc nâng vốn từ 1.500
tỷ đồng hiện nay lên 2.000 tỷ đồng tính đến thời điểm 01/01/2008.
+ Từng bước đi lên sau khủng hoảng và vượt lên từ thời kỳ đen tối,
VPBank đã không ngừng cố gắng để cải thiện hoạt động của mình và phát
triển mạnh mẽ. Nhiều chi nhánh đã được mở, các phòng giao dịch xuất hiện
ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là vào năm 2005. Kết quả là, Tổng
số chi nhánh, phòng giao dịch trong toàn hệ thống đạt tới con số 31. Ngày
17/2/2006, VPBank chính thức khai trương Trụ sở chính và Phòng Giao dịch
Hồ Gươm tại số 8 Lê Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
6
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Nếu như trong 2 năm đầu hoạt động, mạng lưới của VPBank chỉ là 3
chi nhánh và 6 phòng giao dịch thì đến năm 2006, quy mô mạng lưới của
VPBank đã lên tới 55 điểm giao dịch với 28 chi nhánh và 27 phòng giao
dịch. Ở Hà Nội có 2 chi nhánh cấp I là Chi nhánh Hà Nội (quản lý 5 chi
nhánh cấp 2 trên cùng địa bàn), Chi nhánh Thăng Long (quản lý 4 chi nhánh
cấp 2 trên cùng địa bàn). Ở Hồ Chí Minh có 2 chi nhánh cấp I là Chi nhánh
Hồ Chí Minh quản lý 3 chi nhánh cấp 2 trên cùng địa bàn), Chi nhánh Sài
Gòn (quản lý 2 chi nhánh cấp 2 trên cùng địa bàn). Ở các tỉnh đều có các chi
nhánh cấp I, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đáp ứng được nhu cầu quy
mô mở rộng tiếp cận thị trường của Ngân hàng VPBank.
+ Với chủ trương mở rộng mạng lưới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
và đem các sản phẩm, dịch vụ tốt hơn tới khách hàng, năm 2007 VPBank đã
đưa vào hoạt động thêm 12 chi nhánh cấp 1 trên các tỉnh thành trên cả nước
và 39 phòng giao dịch trực thuộc các chi nhánh, trong đó 17 phòng giao dịch
tại địa bàn Hà Nội, 13 phòng giao dịch tại TP. Hồ Chí Minh, còn lại là các
tỉnh thành phố khác. Đến cuối năm 2007, toàn hệ thống VPBank đã có tổng
số 100 điểm giao dịch . Tính đến hết quí I/2008 quy mô hoạt động toàn hệ là
122 điểm giao dịch.
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 1: Tình hình tăng giảm vốn điều lệ của VPBank qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
III. Kết quả kinh doanh của VPBank một số năm gần đây
1. Một số chỉ tiêu tài chính
Trước năm 2002, hoạt động kinh doanh của VPBank rơi vào khủng
hoảng, doanh thu sụt giảm, uy tín giảm dần và thậm chí còn bị đưa vào danh
8
Năm 1993 1994 1996 2004 2005 2006 2007 2008
Vốn
điều lệ
20 70 174.9 198.3 309,4 1000 1500 2000
Nguồn: Báo cáo thường niên VPBank2007
Biểu đồ 1: Tình hình tăng giảm vốn điều lệ của VPBank qua các năm
20
70
174.9
198.3
309,4
1000
0
200
400
600
800
1000
1200
1993 1994 1996 2004 2005 2006
1400
1800
1600
2000
2007 2008
1500
2000
Vốn điều lệ
Chuyên đề tốt nghiệp
sách “giám sát đặc biệt”. Tuy nhiên, vượt qua chặng đường gian lao ấy,
VPBank đã cải thiện mình về mọi mặt. Từ năm 2002 đến nay, VPBank đã
đạt được nhiều thành công đáng kể. Uy tín và vị thế được nâng lên, hiệu quả
kinh doanh không ngừng được tăng qua các năm.
− Thu nhập của VPBank có tốc độ tăng mạnh, số thực hiện của năm sau
cao hơn năm trước. Thu nhập từ các khoản lãi chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng thu nhập của ngân hàng. Thu nhập từ phí dịch vụ và hoa hồng tuy
nhỏ hơn nhiều so với thu nhập từ lãi, nhưng đã tăng cao so với năm
trước. Lợi nhuận sau thuế năm 2006 tăng 104% so với năm 2005 và năm
2007 tăng 98% so với năm 2006 cho thấy hoạt động kinh doanh của
VPBank rất tốt, phản ánh được hiệu quả kinh doanh cao của ngân hàng.
Bảng 2 : Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh giai đoạn 2005-2007
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Thu nhập tiền lãi, các khoản có tính chất lãi.
Chi phí tiền lãi và các khoản có tính chất lãi
432 054
(286 701)
712 450
(481 210)
1 320 540
(721 489)
Thu nhập tiền lãi ròng 145 353 231 240 599 051
Thu phí dịch vụ và hoa hồng 10 069 17 796 23 789
Chi trả phí dịch vụ và hoa hồng (3 852) (9 050) (11 158)
Thu nhập từ phí dịch vụ & hoa hồng ròng 6 217 8 746 16 631
Lãi ròng từ kinh doanh ngoại hối (9 718) (2 583) (3 584)
Thu nhập khác 22 485 64 582 98 687
Lương và các chi phí có liên quan (32 726) (56 659) (78 982)
Dự phòng cho các khoản nợ khó đòi (7 085) (11 437) (15 732)
Hao mòn TSCĐ (2 943) (8 296) (10 082)
Chi phí quản lý chung (45 374) (71 876) (91 208)
LN trước thuế 76 209 156 808 312 058
Thuế TNDN (20 626) (43 388) (87 376)
LN sau thuế 55 583 113 420 224 682
Lãi trên cổ phiếu
Lãi cơ bản trên cổ phiếu (VNĐ) 2 446 2 447 2 552
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của VPBank năm 2005, 2006, 2007
Bảng 3 : Tỷ lệ đảm bảo an toàn của VPBank năm 2007.
Đơn vị: %
Loại tỷ suất
Tiêu
chuẩn
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Tỷ lệ vốn ngắn hạn đã sử dụng
cho vay trung dài hạn
≤ 40% 1,6% 1,5% 0,4% 2,66% 1,7%
Tỷ lệ khả năng chi trả ≥ 1% 191,% 247,3% 108% 332% 295%
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ≥ 8% 11,2% 8,2% 15% 26% 28%
Nguồn: Báo cáo thường niên của VPBank năm 2007
− Trong hoạt động của mình, VPBank đã đảm bảo đúng được các tỷ lệ
an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ này cho thấy hoạt
động của VPBank khá ổn định, không đối mặt với nguy cơ rủi ro cao
như thời kỳ trước đây (xem bảng 3). Để đạt được tỷ lệ đó, trong những
năm qua, VPBank đã phải nỗ lực hết sức trong hoạt động kinh doanh để
vừa phục vụ được nhu cầu khách hàng vừa đảm bảo đem lại doanh số
cho mình và khẳng định được uy tín của mình trong hệ thống ngân hàng.
− Khả năng chi trả là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả
kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp hay ngân hàng nào. Khả năng chi trả cho
thấy được tính thanh khoản cao, sự sẵn có về vốn, từ đó phản ánh được hiệu
quả kinh doanh của tổ chức kinh tế đó. Khả năng chi trả của VPBank giai đoạn
2003-2007:
+Năm 2003, tỷ lệ khả năng chi trả của VPBank là 191,6%, tỷ lệ này lớn
hơn rất nhiều so với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (100%)
là 91,6%.
+ Năm 2004, tỷ lệ này là 247,3%, vẫn lớn hơn quy định của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam rất nhiều. VPBank đảm bảo khả năng thanh toán của
mình, tuy nhiên tỷ lệ này đã làm giảm thu nhập từ lãi của mình.
+Năm 2005, 2006, 2007, tỷ lệ này của VPBank vẫn lớn hơn 100%, làm
tăng khả năng cho vay ra của ngân hàng, đồng thời đảm bảo khả năng
thanh toán của VPBank. Từ các số liệu trên, có thể thấy khả năng thanh
10
Chuyên đề tốt nghiệp
khoản của VPBank rất tốt.
Bảng 4: Khả năng sinh lời của vốn huy động giai đoạn 2003-2007
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
LN sau thuế 28.347 43.256 55.583 113.42 224.682
Vốn huy động 2.219.546 3.858.967 5.608.001 9.065.194 12.508.786
LN sau thuế/vốn
huy động(%)
1,27 1,12 0,09 1,25 1,79
Nguồn: Báo cáo thường niên của VPBank năm2006
− Chỉ tiêu khả năng sinh lời của vốn huy động cũng góp phần phản ánh
hiệu quả kinh doanh của VPBank. Bởi huy động vốn có vai trò rất quan
trọng trong hoạt động của ngân hàng. Huy động vốn giúp ngân hàng có
đủ vốn tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình và triển khai các
chương trình sản phẩm mới thu lại lợi nhuận cao hơn. Nếu như năm
2004, chỉ tiêu này là 1,12% thì đến năm 2006, nó đã đạt tới 1,25% và
tăng lên 1,79% năm 2007(xem bảng 4). Tuy nhiên, khả năng sinh lời từ
hoạt động huy động vốn tương đối thấp, mỗi đồng vốn được huy động
chỉ tạo được xấp xỉ 1,01 đồng lợi nhuận sau thuế.
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 5: Doanh thu của một số sản phẩm chủ yếu của VPBank
giai đoạn 2003-2007
Đơn vị: Tỷ đồng
Tên sản phẩm
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Tốc độ tăng
so với năm
2006(%)
Thanh toán quốc tế 1,16 2,28 4,02 6,12 9,13 49,1
Tín dụng (dư nợ) 578 1.865 3.104 5.031 9.259 84
Kinh doanh ngoại tệ 6,8 8,7 11,9 9,8 12,9 31,6
Dịch vụ chi trả
kiều hối
0,75 1,20 2,98 3,48 7,12 104,6
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007
− Các nhóm sản phẩm phong phú, đa dạng đã đem lại doanh số lớn
cho VPBank. Trong đó, doanh thu từ dịch vụ thanh toán quốc tế, tín
dụng và kinh doanh ngoại tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn cả (xem bảng
5). Doanh thu của các sản phẩm dịch vụ này liên tục tăng qua các
năm. Năm 2007, doanh thu từ dịch vụ thanh toán quốc tế tăng
49,1% so với năm 2007. Dư nợ tín dụng đạt mức cao, 9.259 tỷ đồng,
tăng 84% so với năm 2006, kinh doanh dịch vụ đạt doanh thu hơn
12,9 tỷ đồng. Đặc biệt dịch vụ chi trả kiều hối năm 2007 tăng
104,6% so với năm 2006.
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của VPBank đã tăng lên qua các năm. Tuy
chưa phải thực sự tốt như các ngân hàng BIDV, ACB,…Nhưng những chỉ
tiêu trên cho thấy được sự cố gắng và những thành công của VPBank sau
chặng đường sóng gió cách đây 5 năm.
2. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của VPBank
2.1. Thành công đạt được
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong thời gian qua, một số dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Số
thực hiện của năm sau cao hơn năm trước. Do đó, nguồn thu từ phí dịch vụ
tăng trưởng cao, đặc biệt trong dịch vụ tín dụng và thanh toán quốc tế.
VPBank đã triển khai được một số sản phẩm mới, ứng dụng được những
thành tựu công nghệ hiện đại, đặc biệt trong công nghệ T24 của Thụy Sỹ cho
phép chuyên nghiệp hoá nghiệp vụ của ngân hàng, và nhất là đi tiên phong
trong việc phát hành thẻ…Điều này đã đảm bảo khả năng cạnh tranh của ngân
hàng trong điều kiện hội nhập.
Chất lượng dịch vụ của VPBank được cải thiện nhiều. Ngân hàng do áp
dụng những thành tựu công nghệ mới đã hỗ trợ cho quá trình thao tác trong
cùng hệ thống được nhanh chóng, chính xác, giảm thời gian chờ đợi của
khách hàng. Các dịch vụ có xu hướng mở rộng đối tượng sử dụng, như công
ty TNHH, công ty cổ phần, các khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tư nhân.
Các dịch vụ của VPBank có xu hướng đáp ứng được các yêu cầu của hội
nhập kinh tế quốc tế cũng như các tiêu chuẩn quốc tế. Các giải pháp nâng cao
quản trị rủi ro tín dụng đang được áp dụng và cải tiến cho phù hợp với từng giai
đoạn như đảm bảo tính hiệu quả của lãi suất, xác định giới hạn tín dụng.
Đội ngũ nhân viên của VPBank làm việc rất chuyên nghiệp do công tác
tuyển dụng và đào tạo đội ngũ nhân viên rất khắt khe và cẩn thận nên chọn
lựa được những người xứng đáng cho công việc.
Nhờ những sự cố gắng không ngừng và đóng góp của VPBank đối với sự
phát triển của nền kinh tế Việt Nam đã được Hội sở hữu trí tuệ Việt Nam trao
danh hiệu lần thứ 2 “Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia” (14/04/2007). Đây là sự
khích lệ và động viên rất lớn đối với ngân hàng để ngày càng phát triển vững
mạnh hơn.
2.2. Những tồn tại trong hoạt động kinh doanh của VPBank.
Bên cạnh những thành công mà VPBank đã đạt được vẫn còn tồn tại một
số hạn chế sau:
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Số lượng dịch vụ chưa phong phú. VPBank cũng có các danh mục sản
phẩm dành cho đối tượng khách hàng bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đặt trong mối tương quan với các ngân hàng khác, các sản phẩm
trong danh mục này còn đơn điệu và ít hơn. Điều này làm hạn chế khả năng
cạnh tranh của VPBank trong hệ thống ngân hàng .
Chất lượng dịch vụ còn nhiều hạn chế. Mặc dù VPBank tăng cường cải
thiện chất lượng dịch vụ qua các năm, song vẫn dừng lại ở mức độ nào đó.
Nhu cầu khách hàng ngày càng phong phú, trong khi chất lượng dịch vụ của
các ngân hàng ngày càng cao, có nhiều tính năng, tiện ích mới.
Cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý. Dịch vụ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu dịch vụ. Ngân hàng chưa khai thác được hết tiềm năng của các sản
phẩm, dịch vụ khác, vì thế chưa tăng được doanh thu từ những sản phẩm dịch
vụ này. Đồng thời cơ cấu khách hàng cũng không thực sự hợp lý, khách hàng
của VPBank mới chủ yếu là các doanh nghiệp cần vay vốn nhỏ lẻ. Vì thế mà
đã bỏ ngỏ bộ phận khách hàng còn lại, chưa tập trung vào khai thác nguồn lợi
từ bộ phận này.
2.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động kinh doanh của
VPBank.
Những tồn tại trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Để có thể phát triển
mạnh hơn nữa, việc xem xét những nguyên nhân chủ yếu có ý nghĩa rất quan
trọng. Việc tiếp cận các nguyên nhân ấy theo nhóm nguyên nhân khách quan
và nguyên nhân chủ quan.
2.3.1. Nguyên nhân khách quan:
−Do cơ chế luật pháp chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa tạo ra cơ chế
hoạt động cho các ngân hàng nói chung và VPBank nói riêng. Hiện nay,
Quốc hội vẫn chưa xây dựng và ban hành Luật cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng. Vì thế, khi có những tranh chấp xảy ra thì các bên cũng như
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét