Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tài liệu Đề án “Quá trình sử dụng và điều hành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian qua” doc


4

CHƯƠNG I
Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng và
kinh nghiệm của một số nước trong việc điều hành chính sách
lãi suất tín dụng ngân hàng.

1. Khái niệm lãi suất.
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại rất nhiều phạm trù kinh tế - tài chính
trong đó tín dụng và lãi suất tín dụng là một trong số những phạm trù quan trọng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động vay mượn, quan hệ sử dụng vốn giữa
người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả. Đối với chủ thể thừa
vốn, tín dụng mang đến cho họ cơ hội không những bảo t
ồn được vốn mà còn
tạo thu nhập. Đối với các chủ thể thiếu vốn, tín dụng giúp cho họ bổ sung vốn để
đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc đời sống. Như vậy, nhờ có hoạt động
tín dụng mà có một bộ phận lớn nguồn vốn trong nền kinh tế được huy động, tập
trung và phân phối từ nơi tạm thời dư thừa sang nơi thi
ếu để đáp ứng các nhu
cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.
Công cụ và là đòn bẩy quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động
tín dụng chính là lãi suất. Lãi suất tín dụng ngân hàng là tỷ lệ % giữa lợi tức và
tổng số tiền vay trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, lãi suất chính là giá cả sử
dụng tiền vốn, gắn liền với hoạt
động tín dụng ngân hàng, đồng thời gắn liền với
mọi hoạt động kinh tế có liên quan đến gửi tiền và vay tiền.
Mặt khác, ở tầm vĩ mô, lãi suất còn là một công cụ điều tiết kinh tế rất
nhạy bén và hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia. Thông qua việc thay đổi
mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, Chính phủ có thể tác động
đế
n quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá
trình điều chỉnh cơ cấu, đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và
tình trạng lạm phát trong nước. Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định

5
của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như một công cụ góp
phần điều tiết đối với các luồng vốn đối với một nước, tác động đến tỷ giá và
điều tiết sự ổn định của tỷ giá. Điều này không những tác động đến đầu tư phát
triển mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương
mạ
i quốc tế của nước đó đối với nước ngoài.
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trường phát triển
và theo đuổi chính sách tự do hoá tài chính (financial liberalization ), lãi suất
được hình thành trên cơ sở thị trường, tức là do quan hệ giữa cung và cầu về vốn
trên thị trường quyết định.
Có nhiều tiêu chí phân loại lãi suất tín dụng ngân hàng.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, lãi suấ
t tín dụng ngân hàng chia thành ba
loại. Đó là lãi suất tín dụng ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn
hạn, lãi suất tín dụng trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn, lãi
suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn.
Nếu căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất thì lãi suất được chia thành lãi
suất thả nổi và lãi suất cố
định. Lãi suất thả nổi là lãi suất thay đổi lên xuống còn
lãi suất cố định là lãi suất được áp dụng trong suốt thời hạn tín dụng.
Nếu căn cứ vào loại hình lãi suất tín dụng, lãi suất được chia thành nhiều
loại khác nhau. Lãi suất tiền gửi là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi, lãi suất này
có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, quy mô tiền gửi. Lãi suất
tiền vay là lãi suấ
t mà người đi vay phải trả cho ngân hàng do việc sử dụng vốn
vay của ngân hàng, nó được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả
cho ngân hàng. Lãi suất chiết khấu áp dụng khi ngân hàng cho vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh
toán của khách hàng, nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá và được khấu trừ
ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Lãi suất tái chiết khấu áp dụng
khi ngân hàng tái cấp vốn cho các ngân hàng d
ưới hình thức chiết khấu lại
thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của ngân
hàng. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của các giấy tờ có giá và
cũng được khấu trừ ngay khi NHTƯ cấp tiền vay cho ngân hàng thương mại
(NHTM ). Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho

6
nhau vay trên thị trường liên ngân hàng, nó được hình thành bởi quan hệ cung
cầu tiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của lãi suất tái cấp vốn của
NHTƯ. Lãi suất cơ bản là lãi suất được các NHTM sử dụng làm cơ sở để ấn định
mức lãi suất kinh doanh của mình.
Một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu khái niệm lãi suất tín dụng
ngân hàng đó là phải phân biệt đượ
c lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào
thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi
suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trong các quan hệ tín dụng, trên
các phương tiên thông tin đại chúng.
Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay
đổi dự tính về
lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được khái quát
thành phương trình sau đây:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát.
hay
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.
Vì được điều chỉnh lại theo đúng những thay đổi về lạm phát nên lãi suất
thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng nh
ư chi phí thật
của việc cho vay.

2.
Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất:
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò trung
tâm trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trường tài
chính. Vì lẽ đó, lãi suất trong các nước đó đều do Nhà nước qui định, thậm chí
một số nước còn quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi
suất cho vay của các ngân hàng. Sự biến động của lãi suất trong các điề
u kiện
như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của chính phủ và không vận động theo bất
cứ một quy luật nào.

7
Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trò là
người điều tiết vĩ mô, thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ
chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng
của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều các nhân tố khác.
Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ:
Lãi su
ất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và
cầu hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi
suất trên thị trường. Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các
quy định của chính phủ và NHTƯ, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường
đều dựa vào nguyên lý này để xác
định lãi suất. Do vậy, có thể tác động vào
cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp
với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kỳ chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn
đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng điểm. Mặt khác, muốn duy trì sự ổn
định của lãi suất thì sự ổn định của thị trườ
ng vốn phải được đảm bảo vững chắc.
Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng:
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có
xu hướng tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất
danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi
suất danh ngh
ĩa phải tăng lên tương ứng. Mặt khác, công chúng dự đoán lạm
phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những
dạng thức phi tài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước
ngoài nếu có thể. Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp
lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ mối quan hệ
này cho thấy ý nghĩa và tầm
quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suất, sự
ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tư phải cao hơn lãi suất các
khoản vay tài trợ cho dự án. Có như vậy các nhà đầu tư mớ
i có lợi nhuận từ các
dự án đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính

8
sách lãi suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷ suất lợi tức trung bình của
nền kinh tế.
Ảnh hưởng của bội chi ngân sách:
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu tiền
tăng và làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công
chúng về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thông thường,
Chính phủ thường tài trợ
cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu.
Lượng cung trái phiếu trên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu
hướng giảm và lãi suất thị trường có xu hướng tăng. Mặt khác, do tài sản có của
NHTM tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vượt mức giảm nên lãi
suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động
đến lãi suất. Khi các hình thức thuế này t
ăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập
của các cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia
kinh doanh chứng khoán. Mọi người đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là
thu nhập danh nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ
phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của thuế.
Ảnh hưở
ng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng:
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng
ngoại tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của người dân là coi ngoại tệ mạnh như một
trong những loại tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tượng đô la hoá
xảy ra, người dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm b
ằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ.
Làm như vậy người gửi hưởng lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của
đồng đô la Mỹ. Sự chuyển dịch này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và
buộc các ngân hàng này phải tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho
vay nền kinh tế. Như vậy, khi xây dựng chính sách lãi suất cần ph
ải xem xét đến
khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ
và ngoại tệ hay lãi suất cho vay nội tệ và ngoại tệ. Điều này giúp giảm bớt sự
dịch chuyển không mong đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá.

9
Những thay đổi trong đời sống xã hội:
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của
các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng
như những biến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các n
ước
Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều
hành chính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể
trước khi đưa ra bất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi
suất.

3.
Các nguyên tắc cơ bản hình thành lãi suất tín dụng ngân hàng.
Như đã nói, lãi suất tín dụng chính là giá cả của tín dụng, là tỷ lệ % tính
theo một thời hạn xác định ( ngày, tuần, tháng, quý, năm ) dùng làm căn cứ để
tính toán số lợi tức tín dụng mà các chủ thể tín dụng phải trả ( đối với chủ thể đi
vay ) hoặc nhận được ( đối với chủ thể cho vay ) để điều hoà lợi ích của các chủ
thể tham gia quan hệ tín dụ
ng. Do vậy, việc xác định lãi suất tín dụng sao cho
hợp lý là một vấn đề vô cùng quan trọng sao cho đảm bảo được lợi ích giữa các
chủ thể trong quan hệ tín dụng.
Trước hết, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lý cho
người gửi tiền vào ngân hàng. Do vậy trong thực tế, lãi suất thực tế phải lớn hơn
hoặc bằng tỷ lệ lạm phát tứ
c là:
Lãi suất thực tế = tỷ lệ lạm phát + tỷ lệ khuyến khích người gửi tiền.
Mặt khác, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lý cho
các tổ chức tín dụng (TCTD ) và NHTM tức là:
Lãi suất = Lãi suất + Các chi phí hợp lý + Bù đắp rủi ro + tỷ lệ thu
nhập
cho vay tiền gửi trong hoạt động trong hoạt động hợp lý của
tín dụng ngân hàng ngân hàng ngân hàng

10
Đồng thời, lãi suất cho vay của ngân hàng phải đảm bảo phát triển nền
kinh tế tức là phải đảm bảo cho những người vay vốn ngân hàng có thu nhập hợp
lý, nghĩa là:
Lãi suất cho vay < Tỷ lệ lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
Do vậy, có thể khẳng định rằng giới hạn tối đa của lãi suất tín dụng ngân
hàng nói chung là tỷ suất lợi nhuận bình quân, còn giới han thấp nhất củ
a lãi suất
là chỉ số lạm phát vì nó sẽ làm cho người gửi tiền bảo toàn được vốn.
Tóm lại, để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng các
quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng được kiểm
soát trong khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát <= lãi suất tín dụng <= tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Nếu vượt quá giới hạn trên, lãi su
ất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực
đối với nền kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối
loạn.

4. Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng
.
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTƯ sẽ
căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp
dụng trong toàn hệ thống ngân hàng. Thông thường, người ta thường quy định
hai chỉ tiêu cơ bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản.
a. Lãi suất cơ bản.
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi ph
ối tất cả các loại lãi suất khác
hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng
trong cơ chế thị trường.
Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế
của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để
điều
hành chính sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất cơ bản, NHTƯ tác động vào thị
trường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tương quan cần

11
thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử
dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cở sở hình thành lãi suất thị trường, tức là
lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hoà một cách tự nhiên lợi ích của
người gửi tiền, của người vay tiền và của TCTD.
Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp d
ưới nhiều góc độ. Nếu
đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng ( người gửi tiền và người vay
vốn) người ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều
này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các TCTD không được hạ lãi suất
một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu phát triển sản xuất, các tổ chức tín dụng không
được tăng lãi suất cho vay quá m
ức. Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của các
TCTD, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các
TCTD, người ta quy định lãi suất cơ bản theo chiều hướng ngược lại đó là quy
định lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu. Điều này làm cho các
TCTD không được vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy
động quá cao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp, gây thiệt h
ại chung cho toàn
hệ thống các TCTD.
Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầu vốn
thông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông thường.
Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát dự
báo hàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho người gửi tiền, bù đắp chi phí
và có lãi cho TCTD, yêu cầu điều hành chính sách tiền t
ệ từng thời kỳ, rủi ro
trong hoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắt buộc, lãi suất hình thành trên thị
trường tiền tệ nói chung, mối tương quan giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ,
mối tương quan giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất cơ bản, cách thức xác định và
điều hành lãi suất cơ bả
n. Có thể lấy lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa, lãi
suất cho vay tối đa, lãi suất tái chiết khấu của NHTƯ đối với các TCTD hoặc lãi
suất trên thị trường liên ngân hàng.
a1. Lãi suất cơ bản là lãi suất tái chiết khấu.
Đây là phương pháp phổ biến được NHTƯ các nước áp dụng. Do lãi suất
này được chủ động công bố và được xem xét, tính toán tương đối thường xuyên

12
nên thực sự đóng vai trò quyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng
như cung cầu vốn của các TCTD. Nhưng lãi suất chiết khấu lại mang nặng tính
chất để điều hành chính sách tiền tệ.
a2. Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa.
Thực chất của lãi suất cơ bản loại này là NHTƯ công bố và kiểm soát lãi
suất tiền gửi tố
i đa và tự do hoá lãi suất cho vay. Các TCTD sẽ ấn định các mức
lãi suất tiền gửi trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các
mức lãi suất cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn.
a3. Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa.
NHTƯ công bố một mức lãi suất trần nhưng có thể quy định một số mức
biên độ
phù hợp với từng loại hình TCTD, thời hạn khác nhau.
a4. Lãi suất cơ bản là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM. Lãi suất liên
ngân hàng hình thành trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và quan hệ
cung cầu vốn trong nền kinh tế. Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn với thị
trường nhiều hơn và dễ biến động hơn. Thông thường lãi suất cơ bản bằng lãi
suất liên ngân hàng cộng thêm m
ột biên độ gồm phí quản lý món vay, phí rủi
ro
b. Lãi suất tái chiết khấu.
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng, NHTƯ chuyển sang
điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là lãi suất tái
chiết khấu của NHTƯ. Lãi suất chiết khấu có tác động và có ý nghĩa hướng dẫn
lãi suất thị trường một cách gián tiếp, tức là tác động
đến lãi suất kinh doanh của
các TCTD.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnh
hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự tăng lên trong
cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ. Còn một sự
giảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm gi
ảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp
cung ứng tiền tệ.

13
Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng
tiền tệ, lãi suất chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những
cơn sụp đổ tài chính vì ngân hàng đóng vai trò là người cho vay cuối cùng.
NHTƯ đóng vai trò là người cho vay cuối cùng không chỉ cho các NHTM mà
còn cho cả hệ thống tài chính nói chung. NHTƯ cung cấp dự trữ cho hệ thống
ngân hàng khi các ngân hàng bị đe doạ phá sả
n, do đó ngăn chặn xảy ra những
cơn sụp đổ ngân hàng và tài chính.
Lãi suất chiết khấu có hai tác dụng: tác dụng về lượng đối với khối lượng
tiền tệ trong lưu thông và tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh
tế.
Tác dụng về lượng: Việc phân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy các
NHTM sau khi tạo ra tiền ghi sổ còn phải tiền trung ương để đảm b
ảo. Nhu cầu
này khiến họ phải đi vay ở NHTƯ bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ
có giá của mình. Việc tái cấp vốn của NHTƯ cho các NHTM có tác dụng về
lượng đối với khối lượng tiền tệ vì nó dẫn đến việc phát hành tiền của NHTƯ
cho các NHTM để họ có thể chi trả cho việc rút vốn khỏi các NHTM.
Tác dụng về giá: NHTƯ tái chiết khấu các ch
ứng từ do NHTM xuất trình
với điều kiện NHTM phải trả một tỷ suất nhất định do NHTƯ đơn phương quy
định. Lãi suất này gọi là tỷ suất chiết khấu hay lãi suất chiết khấu. Các loại lãi
suất cho vay tư nhân tức là lãi suất tín dụng cấp cho nền kinh tế và lãi suất cho
vay Nhà nước đều gắn chặt với lãi suất tái chiết khấu.
Mỗi khi tỷ suất chiế
t khấu thay đổi đều có xu hướng làm tăng hay giảm
chi phí cho vay của NHTƯ đối với các NHTM và do đó khuyến khích hoặc cản
trở nhu cầu xin vay.
Mặt khác, khi kho bạc muốn bán tín phiếu kho bạc cho lĩnh vực ngân hàng
thì họ phải chào một lãi suất tương đương với tỷ suất chiết khấu. Nói cách khác,
khi ấn định tỷ suất chiết khấu, NHTƯ cũng ấn định luôn mức lãi suất đi vay củ
a
Nhà nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét