ĐẶT VẤN ĐỀ 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
II. Nguyên nhân, thực trạng, cách giải quyết: 3
III. Một số ý kiến đóng góp: 12
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 13
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình hội nhập, các quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài không còn xa lạ với chúng ta nữa. Sự đổi mới tích cực trong đời sống
kinh tế, xã hội đã làm cho các quan hệ Hôn nhân và gia đình cũng có những biến
1
đổi sâu sắc, kéo theo đó là những tác động tiêu cực. Đó là tình trạng ly hôn diễn ra
với chiều hướng ngày càng tăng. Và các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng
không nằm ngoài chiều hướng đó với những nguyên nhân vô cùng phong phú và
đa dạng. Về thủ tục giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luật đã có
những quy định cụ thể về vấn đề này, nhưng xem ra vẫn còn một số vướng mắc và
hạn chế nhất định. Hiểu được tầm quan trọng cũng như những tác động tiêu cực
trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, em xin chọn đề tài: “Tìm hiểu một số
nét về thực trạng, nguyên nhân và cách giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài” để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị góp
phần hạn chế thực trạng cũng như thủ tục, cách giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái niệm:
1. Ly hôn:
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Dưới mỗi chế độ
xã hội,việc quy định về ly hôn có khác nhau.
Điều 8 Luật HNGĐ 2000 có giải thích: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn
nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc
cả hai vợ chồng”.
Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong
mối quan hệ vợ chồng. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể
thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn thực chất mối
quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý
nghĩa. Trong quan hệ tự do hôn nhân, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn
khi họ không yêu nhau thì cũng không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với
2
nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa. Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ,
chồng khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ hiện tại, giúp vợ chồng thoát khỏi những
mâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải quyết được.
2. Ly hôn có yếu tố nước ngoài:
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa
công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài và bản án,
quyết định ly hôn có Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã được
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
II. Nguyên nhân, thực trạng, cách giải quyết:
1. Thực trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài:
Trong nhiều năm qua, số các vụ án ly hôn là một trong số những vụ án có số
lượng cao nhất, năm sau luôn cao hơn năm trước, trong đó số các vụ án ly hôn có
yếu tố nước cũng khá nhiều. Số vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài được xét xử chỉ
chiếm tỷ lệ nhỏ so với số vụ án được thụ lý. Tình hình thụ lý của các năm sau có
chiều hướng tăng hơn so với năm trước và tỷ lệ giải quyết các vụ án này những
năm gần đây có chiều hướng tăng thường là trên 90%, số lượng các vụ án bị hủy
giảm lượng án tồn, án quá hạn rất ít. Trong năm qua tại thành phố Hồ Chí Minh, đã
xuất hiện trường hợp nguyên đơn là người nước ngoài hoặc Việt kiều về nước xin
ly hôn với công dân Việt Nam (21 vụ). Đây là những trường hợp hoàn toàn mới và
việc giải quyết án sẽ vất vả, kéo dài hơn thông thường vì phải công chứng, chứng
thực đơn, tài liệu, phiên dịch tại tòa…Nội dung giải quyết liên quan đến vụ ly hôn
có yếu tố nước ngoài cũng khá đa dạng, có yêu cầu về giải quyết con chung, giải
quyết yêu cầu về phân chia tài sản chung, riêng Đa số các việc ly hôn do công dân
3
Việt Nam trong nước đứng nguyên đơn và việc xét xử thường là vắng mặt bên phía
nước ngoài.
Thực tế thụ lý và giải quyết các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài tại các
TAND trong nước cho thấy về tố tụng vẫn còn điểm vướng mắc, chủ yếu là về thủ
tục. BLTTDS 2004 ra đời đã phần nào cụ thể, đơn giản hoá về thủ tục tố tụng
nhưng vẫn gây ra những cản trở không nhỏ cho việc giải quyết. Từ thực tế giải
quyết của Toà án chúng ta thấy còn có những điểm vướng mắc như :
Việc xác định thế nào là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" rất khó.
Vấn đề này đã được ngành Tòa án đưa ra thảo luận lấy ý kiến, hiện có nhiều quan
điểm khác nhau và vẫn chưa thống nhất đường lối giải quyết nên cách hiểu và áp
dụng ở các tòa chưa thống nhất. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc xác định thẩm
quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện.
Nhiều khó khăn trong thực hiện ủy thác tư pháp: Khi tiến hành giải quyết
vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam xuất hiện rất nhiều khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt là trong hoạt động ủy
thác tư pháp trong một số công việc như ghi lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập
chứng cứ, xác minh địa chỉ, trưng cầu giám định…Việc ủy thác tư pháp để ghi lời
khai của những người đang ở những nước mà Việt Nam chưa ký hiệp định tương
trợ tư pháp thì hầu như không có kết quả. Những việc mà Tòa án Việt Nam ủy thác
tư pháp cho Tòa án nước ngoài kết quả trả lời thường rất chậm, thậm chí nhiều
trường hợp không nhận được sự trả lời. Chính vì vậy việc lấy lời khai, tống đạt các
văn bản của Tòa án hoặc xác định tài sản ở nước ngoài là không thực hiện được
làm cho vụ án kéo dài, vi phạm thời hạn xét xử. Nhiều vụ không thể thụ lý giải
quyết do công dân Việt Nam xin ly hôn chỉ cung cấp cho Tòa án bản đăng ký kết
hôn có địa chỉ của bên kia, ngoài ra không có một thông tin nào khác. Điều này
dẫn đến thực tế nhiều cuộc hôn nhân chỉ mang tính hình thức vẫn bị kéo dài ảnh
hưởng đến cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của nguyên đơn. Bên cạnh đó thủ
4
tục hợp thức hóa lãnh sự đối với các việc mà Tòa án Việt Nam yêu cầu thì nhiều
Tòa án nước ngoài chưa đáp ứng kịp thời cũng gây khó khăn cho việc xét xử.
Trình độ thẩm phán cũng còn nhiều bất cập. Do không được đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức thường xuyên nên nhiều thẩm phán không nắm vững, không
thường xuyên cập nhật được chuyên môn của tư pháp quốc tế. Mặt khác, trình độ
ngoại ngữ của đội ngũ thẩm phán còn hạn chế, rất khó khăn trong việc tiếp cận với
pháp luật nước ngoài cũng như khi tiến hành tố tụng trong những vụ án có công
dân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài.
2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
Nguyên nhân ly hôn là những hiện tượng, sự việc tác động đến hôn nhân là
cho hôn nhân tan vỡ. Nguyên nhân dẫn đến tình hình vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài hiện nay rất đa dạng và phong phú. Ly hôn có yếu tố nước ngoài mang đầy
đủ những nguyên nhân của các vụ án ly hôn bình thường. Trong cuộc sống hiện
nay, thế hệ trẻ chưa có được những nhận thức đầy đủ và đúng đắn về ý nghĩa và
tầm quan trọng của hôn nhân, từ đó họ không có ý thức chăm lo đến sự tồn taị, ổn
định của các quan hệ này, dẫn đến vợ chồng đối xử với nhau tùy tiện không coi
trọng tình cảm, nhân phẩm, uy tín danh dự của nhau. Nguyên nhân ly hôn cũng có
thể là do thiếu trách nhiệm của vợ hay chồng, hoặc là do sự xuống cấp về đạo đức,
bạo hành gia đình. Một bên ngoại tình, một bên bỏ nhà đi quá 2 năm không có
duyên cớ chính đáng. Một bên mặc bệnh điên hoặc mọt bệnh khó chữa khỏi; Vợ
chồng tính tình không phù hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống
được
Bên cạnh đó nguyên nhân dẫn đến các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài còn
có thêm nguyên nhân riêng: do mục đích hôn nhân không thành có thể họ lấy nhau
vì tiền, vì tâm lý sính ngoại ; do mỗi nước có một phong tục tập quán và ngôn
ngữ khác nhau, nên quan niệm sống và quan niệm về hôn nhân không giống nhau
cũng dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong những gia đình người Việt Nam lấy người
5
nước ngoài, dẫn đến ly hôn. Đối với những người thường xuyên làm việc và cư trú
ở nước ngoài, thì việc di cư của con người là một trong những nguyên nhân chính
làm cho số lượng các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày càng tăng
nhanh. Việc ly hôn có yếu tố nước ngoài này là một vấn đề được đặt ra đối với chính
phủ của nhiều nước trên thế giới, đòi hỏi chỉ có thể thực hiện bằng pháp luật. Vấn đề
cần phải hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài là một điều cần thiết. Rất nhiều vụ án trở nên phức tạp do chính
sự bất cẩn của chính nguyên đơn khi họ không tìm hiểu kỹ "đối tác" của mình (về
nhân thân, địa chỉ ). Điều này đã khiến cho các cơ quan Tòa án khó có thể giải
quyết các vụ việc liên quan đến hôn nhân và phải giải quyết theo thủ tục ly hôn
theo quy định. Ngoài ra, việc kí kết các HĐTTTP, ĐƯQT của nước ta tuy đã được
chú trọng nhưng vẫn còn ở mức hạn chế
3. Cách giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Về thủ tục ly hôn thì nhiều nước quy định chỉ cần đăng kí tại cơ quan hộ tịch
khi vợ chồng thuận tình ly hôn; chỉ khi một bên yêu cầu hoặc có tranh chấp về việc
ly hôn thì mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ở nước ta, chỉ có Tòa án
mới được giao thẩm quyền giải quyết việc ly hôn.
-Vấn đề thẩm quyền của Toà án Việt Nam trong việc giải quyết vụ việc ly hôn
có yếu tố nước ngoài, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 410 BLTTDS: Toà
án Việt Nam giải quyết các vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân
Việt Nam. Hay trong khoản 3 Điều 102 LHNGĐ năm 2000 thẩm quyền giải quyết
các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài quy định: Toà án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, xem xét việc
công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của
Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài; Toà án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam giải quyết việc
6
ly hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước
láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.
Trong nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết
một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, trong đó có quy định riêng về
ly hôn có yếu tố nước ngoài ( mục 2 Nghị quyết), cụ thể như sau:
- Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công
dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài, cần phân biệt:
+ Trường hợp ủy thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn giống lưu
vong, không có cơ quan nào quản lý không thể liên lạc được với họ thì Tòa án
yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn. Tòa án căn
cứ vào những lời khai và tài liệu do thân nhân của bị đơn gửi mà xét xử theo thủ
tục chung.
+ Trường hợp bên đơn sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ,
không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn trong nước không thể biết được
địa chỉ và tin tức:
* Nếu qua thân nhân của họ mà không có địa chỉ, không có tin tức gì
về họ thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Và nguyên
đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên
bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất
tích, tuyên bố chết. (đoạn 1, điểm b, mục 2.1);
* Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với
thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin
tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thông báo cho bị đơn biết để gửi
lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ,
từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã
yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa
7
chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu
của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng
mặt bị đơn theo thủ tục chung(đoạn 2, điểm b, mục 2.1)
- Đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước
ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay về Việt Nam xin ly hôn và người nước ngoài
xin ly hôn ( điểm a, mục 2.3):
+ Người nước ngoài đang ở nước ngoài xin ly hôn, người Việt Nam còn
quốc tịch Việt Nam và đang cư trú tại Việt Nam:
• Người nước ngoài là công dân của nước đã ký kết HĐTTTP với
Việt Nam mà trong HĐTTTP có quy định khác với Luật hôn nhân
và gia đình 2000 (LHNGĐ 2000) thì áp dụng quy định của
HĐTTTP; nếu không có quy định khác thì áp dụng Luật hôn nhân
và gia đình để giải quyết.
• Người nước ngoài là công dân của nước chưa ký kết HĐTTTP với
Việt Nam thì áp dụng quy định LHNGĐ 2000 để giải quyết.
• Nếu tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì tuân theo pháp luật
của nước nơi có bất động sản đó.
+ Người Việt Nam không còn quốc tịch Việt Nam nhưng đang cư trú ở Việt
Nam thì Tòa án Việt Nam không thụ lý giải quyết vì việc này không thuộc thẩm
quyền của Tòa án.
- Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người
nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài (mục 2.4): Người nước ngoài đã về nước mà
không còn liên hệ với công dân Việt Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn, thì
Toà án thụ lý giải quyết. Theo quy định Điều 18 LHNGĐ 2000 nếu người nước
ngoài bỏ về nước không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định, thời gian
không có tin tức cho vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam từ một năm trở lên mà
đương sự, thân nhân của họ và các cơ quan có thẩm quyền sau khi đã điều tra xác
8
minh địa chỉ mà không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị
đơn cố tình giấu địa chỉ và xử cho ly hôn.
Thẩm quyền theo lãnh thổ để giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
được xác định theo Điều 35 BLTTDS là Tòa án nhân dân nơi cư trú hoặc làm việc
của bị đơn, có thể thỏa thuận Tòa án nơi cu trú hoặc làm việc của một trong hai
bên nếu các bên thuận tình ly hôn.
Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu được quy định
tại Điều 36 BLTTDS : có thể là Tòa án nơi bị đơn hoặc đương sự cư trú, làm việc;
Tòa án nơi một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết; Tòa án nơi
người con cư trú giải quyết trong từng trường hợp cụ thể.
Trong Điều 104 LHNGĐ 2000 đã quy định cụ thể việc lựa chọn áp dụng luật
theo từng trường hợp:
- Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người
nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy
định của Luật hôn nhân và gia đình 2000 ( ĐIều 85 đến Điều 99)
- Công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu
cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi
thường trú chung của vợ chồng, nếu họ không có nơi thường trú chung
thì theo pháp luật Việt Nam.
- Đối với việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn sẽ
tuân theo pháp luật nơi có bất động sản đó( Điểm c khoản 14 ĐIều 8 Luật
hôn nhân và gia đình 2000)
Ngoài ra, thẩm quyền giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài còn
được giải quyết theo quy định của các HĐTTTP mà Việt Nam đã ký kết với các
nước trong từng trường hợp cụ thể như sau:
- Trường hợp các bên cùng quốc tịch thông thường sẽ áp dụng theo luật quốc
tịch của vợ chồng ( khoản 1 Điều 27 HĐTTTP Việt Nam- CHDVND Lào,
9
khoản 1 Điều 22 HĐTTTP Việt Nam-Bungari, khoản 1 Điều 26 HĐTTTP
Việt Nam-Ba Lan, khoản 1 Điều 33 HĐTTTP Việt Nam-Hungari). Theo quy
định này Luật quốc tịch đã được áp dụng, theo đó pháp luật của nước mà các
mang quốc tịch sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn.
- Trong trường hợp vợ chồng khác quốc tịch mà chồng cư trú trên lãnh thổ
nước ký kết này và vợ cư trú trên lãnh thổ ký kết của nước kia thì pháp luật
để giari quyết ly hôn là pháp luật của nước mà có tòa án thụ lý đơn ly hôn
(khoản 2 Điều 33 HĐTTTP Việt Nam-Hungari; khoản 2 Điều 22 HĐTTTP
Việt Nam-Bungari; khoản 2 ĐIều 27 HĐTTTP Việt Nam- Lào; khoản 2
ĐIều 26 HĐTTTP Việt Nam – Ba Lan; khoản 2 ĐIều 26 HĐTTTP Việt
Nam – Liên Bang Nga). Như vậy, theo các HĐTTTP mà Việt Nam đã ký kết
với các nước thì công dân Việt Nam ly hôn với người ngoài mà chồng cư trú
ở nước ký kết này và vợ cư trú ở nước ký kết kia thì Luật tòa án sẽ được áp
dụng để giải quyết việc ly hôn.
- Vấn đề thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt
Nam:
Thủ tục giải quyết những việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được áp dụng theo
quy định của LHNGĐ, các hướng dẫn về thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài tại:
Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao; các HĐTTTP đã ký kết giữa Việt Nam với các nước
ngoài;Thông tư liên ngành 6-TT/LN năm 1986 về thẩm quyền và thủ tục giải quyết
những việc ly hôn giữa các công dân việt nam mà một bên ở nước chưa có hiệp
định tương trợ tư pháp về các vấn đề hôn nhân và gia đình với nước ta do Toà án
nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp ban hành; Thông
tư liên ngành Tòa án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ tư pháp
số 6 TT-LN ngày 30/12/1986 hướng dẫn về thẩm quyền và thủ tục ly hôn giữa các
10
công dân Việt Nam mà một bên ở nước ta chưa có HĐTTTP về các vấn đề hôn
nhân và gia đình với nước ta
Ngoài ra, Pháp luật Việt Nam còn quy định chi tiết về các quyền của các bên
đối với việc yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, các căn cứ để Toà án xem xét khi ly
hôn, quyền thăm nom con cái sau khi ly hôn, nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn…
được quy định trong LHNGĐ 2000 cụ thể như sau:
- Về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn:
Luật HNGĐ 2000 quy định vợ, chồng đều có quyền ngang nhau trong việc
yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn;tuy nhiên để bảo vệ quyền và lợi ích của
người phụ nữ, pháp luật quy định trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới
mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn (điều 85
LHNGĐ 2000)
- Về hòa giải và căn cứ cho ly hôn:
Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy
định của pháp luật (Điều 88); Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn nếu xét thấy tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không
đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn (Điều 89)
- Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:
Vợ, chồng có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa
thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con
có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con,
hoặc Toà án ra quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi; nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới ba tuổi thì giao cho
mẹ nuôi nếu không có thỏa thuận khác. ( Điều 92)
- Về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn:
11
LHNGĐ 2000 áp dụng phân chia tài sản ly hôn theo nguyên tắc bình đẳng
giữa nam và nữ trong xã hội cũng như trong gia đình. Pháp luật Việt Nam công
nhận tài sản riêng trong quan hệ hôn nhân, do đó, sau khi ly hôn, tài sản riêng của
bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó. Còn về việc phân chia tài sản chung
được LHNGĐ phân chia trong từng trường hợp cụ thể (khoản 2 Điều 95); Chia tài
sản trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn ( Điều 96); Chia
quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn (Điều 97); Chia nhà ở thuộc sở hữu
chung của vợ chồng (Điều 98); các quy định trong BLDS và Luật đất đai đối với
tài sản và quyền sử dụng nhà, đất.
III. Một số ý kiến đóng góp:
Trong những năm gần đây, số vụ ly hôn ngày càng tăng, thủ tục giải quyết
các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều vướng mắc. Để góp phần hạn chế
tình trạng trên, em xin đưa ra một số kiến nghị:
-Thẩm phán phải điều tra xác minh kỹ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến mâu
thuẫn vợ chồng, phải tìm hiểu tâm tư tình cảm, nguyện vọng của vợ, chồng, đồng
thời phải xác định diễn biến tâm lý của vợ chồng trong thời gian tiến hành giải
quyết vụ kiện, để hòa giải, để hạn chế số lượng vụ án ly hôn.
- Pháp luật cần có những ý kiến, quan điểm, đường lối giải quyết thống nhất
thống để dẫn đến cách hiểu và áp dụng ở các tòa thống nhất, từ đó việc xác định
thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong nước, Tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện về vụ
án ly hôn có yếu tố nước ngoài được rõ ràng hơn.
- Cần xiết chặt công cuộc thực hiện hoạt động ủy thác tư pháp trong một số
công việc như ghi lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa chỉ,
trưng cầu giám định
- Nâng cao trình độ về chuyên môn cũng như trình độ ngoại ngữ của các
thẩm phán để thuận lợi, nhanh chóng, chính xác giải quyết các vụ án ly hôn có yếu
12
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét