Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tổng quan về xã hội học

TiÓu luận xã hội học
III. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học :
Các bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác, triết học mác-xít, chính trị
kinh tế học mác-xít và chủ nghĩa xã hội khoa học đều có mục đích chung
là: giúp giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh
nhằm thủ tiêu hoàn toàn và triệt để mọi sự bóc lột và áp bức, xây dựng
một chế độ xã hội mới - cộng sản chủ nghĩa .
Tuy nhiên, mỗi bộ phận là một môn khoa học có độc lập tương đối,
có nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu riêng.
Triết học mác-xít nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận
động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học mác-xít chính
là cơ sở lý luận chung và là phương pháp luận của chủ nghĩa xã hội khoa
học. Chủ nghĩa duy vật lịch sử, một bộ phận của triết học mác-xít, có
nhiều mối quan hệ hữu cơ với chủ nghĩa xã hội khoa học. Đối tượng
nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử là các quy luật chung của cả
quá trình phát triển của xã hội loài người. Nhưng chủ nghĩa duy vật lịch
sử không nghiên cứu những điều kiện cụ thể, những con đường và
những phương pháp nhằm cải biến cách mạng tư bản lên chủ nghĩa cộng
sản. Nhiệm vụ đó trước hết là của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Chính trị kinh tế học mác-xít nghiên cứu những mối quan hệ giữa
người và người trong sản xuất và phân phối của cải vật chất, nghiên cứu
chế độ kinh tế của xã hội qua các giai đoạn phát triển lịch sử, trước hết là
xã hội tư bản. Khi nghiên cứu xã hội tư bản, Mác đã rút ra kết luận về sự
diệt vong mang tính tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu
của chủ nghĩa cộng sản, đồng thời cũng xác định vị thế kinh tế, xã hội và
vai trò của giai cấp vô sản hiện đại. Do đó chính trị kinh tế học mác-xít
cũng cung cấp những cơ sở lý luận kinh tế cho chủ nghĩa xã hội khoa
học.
5
TiÓu luận xã hội học
Cả hai bộ phận đó của chủ nghĩa Mác đều chưa được chỉ ra cho giai
cấp vô sản những con đường, những phương pháp để tự giải phóng. Chỉ
có chủ nghĩa xã hội khoa học mới là khoa học có nhiệm vụ trực tiếp
nghiên cứu những điều kiện, nội dung và bản chất của sự nghiệp giải
phóng của giai cấp vô sản. Nghiên cứu những điều kiện lịch sử của
những biến đổi ấy, và thực chất của nó và do đó làm cho giai cấp bị áp
bức hiện nay có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy, hiểu rõ được những
điều kiện và bản chất của sự nghiệp của chính họ, đó chính là nhiệm vụ
của chủ nghĩa xã hội khoa học, biểu hiện lý luận của phong trào vô sản.
Đó chính là những luận điểm chúng ta cần nghiên cứu, nó là những
vấn đề cơ bản nhất của xã hội học.
IV. Các chức năng của xã hội học :
Nhiệm vụ của xã hội học là thông qua nghiên cứu các quy luật và các
tính quy luật của sự hoat động phát triển và tương tác của các chủ thể xã
hội. Cùng các hình thức biểu hiện của chúng và cơ chế vận hành của các
quy luật đó, nhằm lý giải thoả đáng nội dung và khuynh hướng của các
biến đổi của từng xã hội đang diễn ra trên thế giới.
Mang tính cách là một khoa học độc lập, xã hội học thực hiện tất cả
các chức năng vốn có của khoa học xã hội. Cho nên xã hội học cũng có
những chức năng riêng của nó gồm:
Thứ nhất: chức năng lý luận, thực tiễn (Chức năng phương pháp
luận). Xã hội học trang bị những tri thức khoa học về sự phát triển xã hội
theo những quy luật vốn có của nó. Xã hội học có nhiệm vụ phân tích lý
luận hoạt động nhận thức để xây dựng nên lý luận và phương pháp nhận
thức đúng đắn. Xã hội học có nhiệm vụ xác định nhu cầu và phát triển
chung cũng như những nhu cầu phát triển riêng của từng yếu tố cấu
6
TiÓu luận xã hội học
thành xã hội, tìm ra các hình thức phân phối hợp lý các nhu cầu đó trong
các điều kiện phát triển cụ thể của xã hội.
Thứ hai: chức năng miêu tả, dự báo. Xã hội học cung cấp những
thông tin chuẩn xác về thực trạng xã hội và dự báo xu thế biến động của
xã hội, qua đó thức tỉnh cá nhân, nhóm cộng đồng xã hội và nhân loại để
khoa học khắc phục và ngăn chặn tệ nạn và khuyết tật xã hội một cách
kịp thời và có hiệu quả.
Thứ ba: chức năng thực tiễn-chức năng văn hoá, chức năng quản lý.
Chức năng văn hoá của xã hội học chủ yếu là ở chỗ xã hội học đóng vai
trò to lớn trong việc hệ thống hoá và hợp lý sự hiểu biết của con người
về xã hội và trong việc tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh về xã hội mà các
khoa học khác chuyên ngành không có khả năng làm được. Xã hội học
có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động thực tiễn của các chủ thể quản
lý xã hội và quảng đại quần chúng nhân dân lao động, trên cơ sở những
dự báo chính xác khoa học về các quá trình xã hội của xã hội học để
vạch ra và thực hiện kế hoạch hoá xã hội.
Thứ tư: chức năng thế giới quan và giáo dục ( chức năng tư tưởng ).
Đây là chức năng nảy sinh từ bản chất và vai trò của hệ tư tưởng trong
hệ thống xã hội ( bao gồm các quan điểm, triết học, xã hội học, kinh tế
chính trị, pháp luật, luân lý, đạo đức, nghệ thuật, thẩm mỹ, tôn giáo ).
Chức năng tư tưởng còn biểu thị trong vai trò làm hình thành một hệ
thống kiến thức, quan điểm, niềm tin và lý tưởng của xã hội, những cái
đó thành chuẩn mực tư tưởng, thành tác nhân kích thích hành động.
Chức năng tư tưởng còn thể hiện ở một mặt rất quan trọng ở chỗ xã hội
học giúp ta xác định lối sống lành mạnh, trung thực, nhân ái trong cộng
đồng xã hội loài người nói chung.
V. Cấu trúc xã hội :
7
TiÓu luận xã hội học
Khái niệm cấu trúc xã hội: xã hội loài người là một hệ thống bao gồm
nhiều bộ phận cấu thành, có liên hệ tương tác lẫn nhau theo thứ bậc và
theo các dạng quan hệ, cơ cấu xã hội hết đa dạng và phức tạp, vì vậy có
nhiều cách tiếp cận để đến với cấu trúc xã hội.
Cơ cấu xã hội là một mô hình của các mối quan hệ giữa các thành
phần cơ bản trong một hệ thống xã hội. Những thành phần này tạo nên
bộ khung cho tất cả chế độ xã hội này đến xã hội khác. Những thành
phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là nhóm các thiết chế xã hội.
Theo bách khoa toàn thư của Liên Xô cũ, cơ cấu xã hội là hệ thống các
mối liên hệ ổn định và có sắp xếp giữa các yếu tố của hệ thống xã hội
được quy định bởi các mối quan hệ giữa các giai cấp và các nhóm xã hội
khác,bởi có sự phân công lao động và bởi có các đặc điểm của các chế
độ xã hội nên có sự khác biệt giữa cơ cấu xã hội nói chung bao hàm toàn
bộ các mối quan hệ và các lĩnh vực cơ cấu xã hội riêng biệt của nó ( sản
xuất, chính trị, văn hoá ).
Chúng ta có thể hiểu cấu trúc xã hội theo góc độ nghiên cứu của xã
hội như sau:
• Cấu trúc xã hội bao gồm là toàn bộ hệ thống các mối quan hệ xã hội
của các yếu tố tạo thành xã hội là một hệ thống tốt, đa cấp bao gồm
nhiều hệ thống nhỏ dần, đơn vị cơ bản là con người.
• Cấu trúc xã hội bao gồm các lớp của cấu trúc cơ bản nhỏ nhất đến
toàn thể lớn nhất và các nhóm cấu trúc với tất cả các quan hệ qua lại,
tác động lẫn nhau, nhiều chiều biến động thường xuyên và phát triển
liên tục, không ngừng tiến lên.
• Cấu trúc xã hội bao gồm cơ cấu xã hội nằm trong cơ cấu chung của
xã hội là nội dung cơ bản quan trọng của cấu trúc xã hội nhưng không
phải là tất cả, không thể đồng nhất với cấu trúc xã hội.
8
TiÓu luận xã hội học
Cấu trúc xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với những người
quản lý kinh tế bởi: Muốn quản lý kinh tế phải có sự hiểu biết về cấu trúc
xã hội trong thời đại lịch sử khác nhau của các chế độ chính trị xã hội
khác nhau, những đặc điểm riêng của cấu trúc xã hội do sự tác động của
sự phát triển kinh tế. Muốn bảo đảm tính hệ thống trong quản lý kinh tế
cần thiết phải hiểu rõ các thành cấu trúc xã hội, vai trò của nó và mối
quan hệ tác động lẫn nhau giữa các thành phần. Trên cơ sở nắm trắc cấu
trúc xã hội để thực hiện sự phân cấp trong quản lý kinh tế đúng đắn,
đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế. Tính đa
dạng và phức tạp của cấu trúc xã hội đòi hỏi người cán bộ quản lý kinh
tế phải có sự hiểu biết rộng về mối quan hệ giữa kinh tế chính trị và xã
hội, tránh được những sai lầm trong khi đề ra chính sách và chế độ quản
lý kinh tế.
VI. Các lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học :
Xã hội học ngày nay nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội với các cấp độ khác nhau. Xã hội học được phân loại theo từng lĩnh
vực mà nó nghiên cứu , người ta thường phân chia thành 3 lĩnh vực cơ
bản như sau:
- Xã hội học đại cương: đây được xem là cấp độ cơ bản của hệ thống
lý thuyết xã hội học. Nó nghiên cứu các vấn đề chung nhất của cấu trúc
xã hội và những hành vi của con người.
- Xã hội học chuyên ngành: đối tượng nghiên cứu của xã hội học
chuyên ngành là một khía cạnh nào đó của chỉnh thể xã hội đó. Hay nói
cách khác là xã hội học chuyên ngành chỉ đi sâu nghiên cứu một vấn đề
cụ thể của đời sống xã hội. Xã hội học ngày nay gồm rất nhiều chuyên
ngành nhỏ khác nhau lại chuyên đi sâu nghiên cứu một vấn cụ thể nhỏ
hơn tuỳ theo mức độ cụ thể của xã hội.
9
TiÓu luận xã hội học
- Xã hội học thực nghiệm: nhiệm vụ chủ yếu của xã hội học thực
nghiệm là xây dựng một hệ thống lý thuyết của xã hội học dựa trên cơ sở
những thực nghiệm xã hội. Những thực nghiệm gồm các khâu sau: khảo
sát điều tra, phân tích, đánh giá, vạch ra các dự báo,dự kiến, tổ chức thí
điểm để thẩm định độ chính xác các dự báo và tổng kết phát hiện quy
luật, xây dựng hệ thống lý luận xã hội học.
10
TiÓu luận xã hội học
PhÇn hai
BIẾN ĐỔI XÃ HỘI
I. Khái niệm:
Xã hội học là một môn khoa học đòi hỏi phải gắn liền với hiện thực
đang vận động và phát triển của xã hội hôm nay. Hơi thở của cuộc sống
là cái nét đặc thù của bộ môn khoa học này. Đó chính là sự biến đổi xã
hội và là vấn đề mà xã hội học rất cần phải quan tâm nghiên cứu.
Xã hội học đề cập, phân tích lý luận và khi nói về sự biến đổi xã hội
là sự biến đổi trong một thể thống nhất không tách rời những cái chung
nhất của chỉnh thể đó.
II. Phát triển và biến đổi xã hội :
Nếu chỉ xét một vấn đề nói chung thì biến đổi xã hội và phát triển xã
hội ở nghĩa hẹp thì chúng ta khó có thể phân biệt được sự khác nhau giữa
chúng.
1.Biến đổi xã hội: là sự thay đổi về chất có thể là tiến lên hay kém đi, là
sự tác động qua lại có thể là tích cực cũng có thể là tiêu cực. Biến đổi xã
hội không phải bao giờ cũng tiến theo một đường thẳng, tất những gì xã
hội có ảnh hưởng đến chỉnh thể thống nhất, ảnh hưởng đến thiết chế xã
hội thì đó được coi là biến đổi xã hội.
2.Phát triển xã hội: không giống với biến đổi xã hội, phát triển xã hội
được hiểu theo nghĩa là xã hội đang biến đổi theo hướng đi lên, theo sự
tiến bộ của xã hội loài người. Phát triển xã hội là một cái gì đó mang tính
tích cực, có ảnh hưởng tốt đến chỉnh thể thống nhất của xã hội làm cho
nó ngày càng hoàn thiện hơn, đạt đến mức độ cần thiết đảm bảo lợi ích
cho những cá thể tồn tại trong chỉnh thể đó.
11
TiÓu luận xã hội học
III. Sự khác nhau cơ bản của các lý thuyết về sự biến đổi và phát
triển xã hội từ thế kỷ XIX đến nay:
Từ khi xã hội học tách ra khỏi triết học và khẳng định được đối tượng
nghiên cứu của mình thì cũng xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau để
giải thích về sự biến đổi xã hội và phát triển xã hội. Đó chính là hệ thống
lý thuyết của các nhà xã hội học kinh điển.
Các nhà xã hội học không tưởng đầu thế kỷ XIX. Đó là lý thuyết chủ
yếu vào ý chí chủ quan của các nhà xã hội học không tưởng, chịu ảnh
hưởng sâu sắc của chủ nghĩa nhân văn tạo nên. Bởi vậy, khi lý giải
những nguyên nhân của sự biến đổi và phát triển xã hội họ thường chịu
ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm: khi đề ra các biện pháp cải tạo xã hội
và xây dựng xã hội mới lý thuyết của họ trở thành không tưởng ( không
thể trở thành hiện được ).
Thuyết Đácuyn xã hội: thuyết này lại tuyệt đối hoá mặt tự nhiên, sinh
vật trong con người và trong xã hội loài người, chuyển học thuyết
Đácuyn từ lĩnh vực sinh vật học sang lĩnh vực xã hội học.Theo họ đấu
tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên là động lực chủ yếu của sự biến đổi
và phát triển xã hội. Do đó thuyết này đã đi ngược lại với tiến trình lịch
sử loài người, nó là động cơ cho những kẻ hiếu chiến muốn thôn tính xã
hội bằng vũ lực và sức mạnh quân sự nhưng những gì đi ngược lại lịch
sử sẽ không tồn tại lâu bền và cũng không thể dùng thuyết này để cải tạo
xã hội được.
Với những bức thiết về mặt lý luận thì đúng thời điểm đó ra đời chủ
nghĩa Mác với 3 bộ hợp thành triết học Mác xít và chủ nghĩa xã hội khoa
học. Chủ nghĩa Mác đã giải thích được một cách có hệ thống và toàn
diện về sự biến đổi và phát triển xã hội.
12
TiÓu luận xã hội học
Thuyết kỹ trị về xã hội: coi khoa học và kỹ thuật là nhân tố quyết
định sự biến đổi và phát triển xã hội, là chìa khoá vạn năng để giải quyết
mọi vấn đề của xã hội loài người và đạt đến sự phát triển xã hội một cách
hài hoà hợp lý.
IV. Các xu hướng trái ngược nhau trong quá trình biến đổi và phát
triển xã hội :
1. Tính tất yếu:
Sự biến đổi và phát triển của xã hội là một quá trình hết sức phức tạp
đầy mâu thuẫn. Xã hội không phải lúc nào cũng đi theo một đường thẳng
mà sự phát triển của xã hội thường phải qua những thời kỳ khủng hoảng,
ngưng trệ là một trạng thái tất yếu của quá trình chuyển từ một trật tự xã
hội này sang một trật tự xã hội khác của quá trình thay đổi cấu trúc xã
hội.
Bất cứ một giai đoạn xã hội nào cũng luôn luôn tồn tại các xu hướng
trái ngược nhau, xã hội càng phát triển có cấu trúc phức tạp thì các xu
hướng đó lại càng phức tạp. Trong quá trình biến đổi và phát triển xã hội
khi khắc phục được mâu thuẫn này thì lại phát sinh mâu thuẫn khác, tiến
lên được mặt này lại có hạn chế kia . Không có giai đoạn nào của sự phát
triển xã hội có thể khắc phục được mọi hạn chế, tạo nên một sự phát
triển hoàn chỉnh. Điều này đã được chứng minh trong lịch sử loài người
từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Ở nước ta hiện
nay đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế cũng đã bộc
lộ tính hai mặt của nền kinh tế thị trường.
2. Sự kế thừa trong quá trình biến đổi và phát triển xã hội:
Trong quá trình biến đổi và phát triển xã hội, các thế hệ loài người kế
tiếp nhau một cách liên tục. Mỗi thế hệ mới ra đời trên cơ sở tất cả các
thành tựu về văn hoá, khoa học do thế hệ cũ để lại. Những thành tựu đó
13
TiÓu luận xã hội học
là nền tảng cho sự phát triển tiếp theo của thế hệ mới. Thế hệ mới bắt
nguồn từ những cái đã có do thế hệ cũ để lại, phê phán những cái hạn
chế, kế thừa những mặt tích cực đã đạt được của thế hệ cũ và phát huy
làm nền cho sự phát triển trong điều kiện mới.
Kế thừa và biến đổi là hai mặt không thể tách rời nhau. Thái độ bảo
thủ giữ nguyên cái cũ, hoặc phủ nhận hoàn toàn cái cũ đều phản khoa
học, đều phản tiến bộ. Kế thừa diễn ra ở tất mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội không chỉ hạn chế trong phạm vi mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mả ở tất
cả các văn minh của nhân loại. Do đó, ai phủ nhận những gì đã có thì sẽ
phải gánh chịu hậu quả nặng nề.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét