Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Vật tư Nông nghiệp I Hải Phòng

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 5

Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dƣới giác độ của các yếu tố sản xuất thì
Mark cho rằng: vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu
vào của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khi vực sản xuất
vật chất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. đây là một hạn chế trong quan
điểm của Mark.
Còn Paul A.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của thuyết kinh tế hiện đại
cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa
vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu
bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình
sản xuất sau đó.
Trong cuốn kinh tế học của David Begg cho rằng: Vốn được phân chia theo
hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hóa
nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Trong đó:
- Vốn hiện vật: là dự trữ các hàng hóa đã xản xuất mà sử dụng để sản xuất ra
các loại hàng hóa khác.
- Vốn tài chính: là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp.
Quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện
của vốn, nhƣng hạn chế cơ bản là chƣa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn.
Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng sản
phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh
sản xuất tiêu dùng trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về
đầu tƣ nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn. Do vậy quan điểm
này cũng không đáp ứng đƣợc nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng nhƣ
phân tích vốn.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về vốn ở trên, khái niệm cần thể hiện
đƣợc các vấn đề sau:
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 6

- Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc
dân đƣợc tái đầu tƣ, để phân biệt với vốn đất đai, vốn nhân lực.
- Trong trạng thái của vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định và tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (
tiền mặt gửi ngân hàng, các tín phiếu, các chứng khoán…) là cơ sở để ra các biện
pháp quản lí vốn kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.
- Phải thể hiện đƣợc mục đích cử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích kinh tế,
lợi ích xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hƣớng cho quá trình quản lí
kinh tế nói chung, quản lí vốn doanh nghiệp nói riêng.
Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhƣng mọi quá trình sản xuất kinh
doanh đều có thể khái quát thành:
T…… H (TLLD, TLSX)……….SX………H’……….T’
Vậy “vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tƣ, tài sản đƣợc đầu
tƣ và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận”
1.1.2- Tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi vận hành kinh tế đều đƣợc tiền tệ hóa, do
vậy bất kì một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù bất cứ cấp độ nào, gia đình
nào, doanh nghiệp hay quốc gia luôn cần một lƣợng vốn nhất dịnh dƣới dạng tiền
tệ, tài nguyên đã đƣợc phân phát, bản quyền phát…
Vốn là điều kiện để quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn là
cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo cho sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
A- Về mặt pháp lí
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp
đó phải có một lƣợng vốn nhất định, lƣợng vốn đó tối thiểu phải bằng lƣợng vốn
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 7

pháp định ( lƣợng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh
nghiệp) khi đó địa vị pháp lí mới đƣợc công nhận. Ngƣợc lại, việc thành lập
doanh nghiệp không thể thực hiện đƣợc. Trƣờng hợp trong quá trình sản xuất kinh
doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh
nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động nhƣ phá sản, sát nhập vào doanh nghiệp khác…
Nhƣ vậy vốn đƣợc xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự
tồn tại tƣ cách phấp nhân của một doanh nghiệp trƣớc pháp luật
B- Về kinh tế
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh nghiệp
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo
khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình
sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách liên tục,
thƣờng xuyên
Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.
Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kì kinh doanh vốn của
doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo cho
doanh nghiệp đƣợc bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục
đầu tƣ sản xuất, thâm nhập vào thị trƣờng tiềm năng từ đó mở rộng thị trƣờng tiêu
thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng.
Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của vốn nhƣ vậy thì doanh nghiệp mới có
thể sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
1.1.3- Đặc trƣng của vốn
Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần có tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động
và sức lao động, quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó
để tạo ra sản phẩm lao vụ, dịch vụ. Để tạo ra các yếu tố phục vụ cho quá trình sản
xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phái có một lƣợng vốn nhất định ban
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 8

đầu. Có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, cũng nhƣ trả
tiền lƣơng cho lao động, sau khi tiến hành tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
dành một phần doanh thu để bù đắp giá trị tài sản cố định đã hao mòn, bù đắp chi
phí vật tƣ đã tiêu hao và một phần để lập quỹ dự trữ cần thiết cho quá trình sản
xuất kinh doanh tiếp theo. Nhƣ vậy có thể thấy các tƣ liệu lao động và đối tƣợng
lao động mà doanh nghiệp đầu tƣ cho mua sắm cho hoạt động sản xuất kinh
doanh là hình thái hiện vật của vốn sản xuất kinh doanh. Vốn bằng tiền là tiền đề
cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy vốn kinh doanh
mang những đặc diểm sau:
- Vốn phải đại diện cho một lƣợng tài sản nhất định có nghĩa là vốn đƣợc
biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động sinh lời đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vốn phải đƣợc tích tụ tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát
huy tác dụng để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh,
vốn luôn biến động và chuyển hóa hình thái vật chất theo thời gian và không gian.
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải đƣợc quản lí chặt chẽ.
- Vốn phải đƣợc quan niệm nhƣ một hàng hóa đặc biệt có thể mua bán hoặc
bán bản quyền sử dụng vốn trên thị trƣờng tạo nên sự giao lƣu sôi động trên thị
trƣờng vốn, thị trƣờng tài chính. Nhƣ vậy vốn bắt đầu là hình thái tiền tệ chuyển
sang hình thái vật tƣ hàng hóa là tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động trải qua
quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm lao vụ hoặc dịch vụ vốn sang một hình thái hóa
sản phẩm. Khi tiêu thụ sản phẩm lao vụ dịch vụ xong vốn lại trở về hình thái tiền
tệ. Do sự luân chuyển vốn không ngừng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên
cùng một lúc vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng tồn tại dƣới nhiều
hình thức khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lƣu thông.
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 9

1.1.4. Phân loại vốn
1.1.4.1 – Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn thì vốn của
doanh nghiệp bao gồm hai loại vốn lƣu động và vốn cố định.
☻Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ. TSCĐ là tƣ liệu lao động chủ
yếu trong sản xuất kinh doanh có đặc điểm tham gia vào quá trình sản xuất trong
nhiều chu kì, tại mỗi chu kì thì giá trị của TSLĐ bị chuyển dần vào SP thông qua
chi phí khấu hao, còn hình thái hiện vật ban đầu là không thay đổi.
Vốn cố định đƣợc biểu hiện dƣới hai hình thái: Hình thái hiện vật
Hình thái tiền tệ
- Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của
các doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ…
- Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chƣa khấu hao và vốn khấu hao khi
chƣa đƣợc sử dụng để tái sản xuất TSCĐ, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành
vòng luân chuyển và chở về hình thái tiền tệ ban đầu.
☻ Vốn lƣu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lƣu động trong sản xuất và tài
sản lƣu động trong lƣu thông.









Vốn lƣu động (TSLĐ)
TSLĐ trong sản
xuất
TSLĐ trong lƣu
thông
Vật liệu trong
kho và
NVL đang
trêntrên
đƣờng về
kho
Công cụ
dụng cụ tồn
kho và SP
dở dang
trong quá
trình chế
tạo
Thành
phẩm tồn
kho và
hàng bán
gửi bán
Các
khoản
phải
thu
Tiền và các
khoản
đầu tƣ tài
chính
ngắn hạn
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 10

Vốn lƣu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở
lại hình thái ban đầu sau mỗi lần chu chuyển của vốn. Đối với doanh nghiệp
thƣơng mại vốn lƣu động bao gồm: vốn lƣu động định mức và vốn lƣu động
không định mức.
- Vốn lƣu động định mức: là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp trong kì, nó bao gồm vốn dự trữ vật tƣ hàng hóa
và vốn phi hàng hóa để phục vụ chỉ hoạt động kinh doanh.
- Vốn lƣu động không định mức: là số vốn lƣu động có thể phát sinh trong quá
trình kinh doanh nhƣng không có căn cứ để tính toán định mức nhƣ tiền gửi ngân
hàng, thanh toán tạm ứng….
1.1.4.2 – Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm: Nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu:
● Nợ phải trả: là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp
có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế nhƣ nợ vay ngân hành, nợ vay
của các chủ thể kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho ngƣời bán, phải nộp ngân
sách…
● Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành
viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Có ba
nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp:
▪ Vốn kinh doanh: gồm vốn góp ( Nhà nƣớc, các bên tham gia liên doanh, cổ
đông, các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chƣa phân phối của kết quả sản xuất kinh
doanh.
▪ Chênh lệch đánh giá lại tài sản ( chủ yếu là TSCĐ): khi Nhà nƣớc cho phép hoặc
các thành viên quyết định.
▪ Các quỹ của doanh nghiệp: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh nhƣ: quỹ
phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thƣơng phúc lợi.
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tƣ XDCB và kinh
phí sự nghiệp.
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 11

1.1.4.3 – Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguồn vốn của
doanh nghiệp bao gồm:
☻ Nguồn vốn thƣờng xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ
cho toàn bộ tài sản cố định của mình. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và
nợ dài hạn của trong nghiệp.
☻ Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lƣu động
tạm thời của doanh nghiệp. bao gồm vốn vay ngân hàng, tạm ứng, ngƣời mua vừa
trả tiền
1.1.4.4 – Phân loại theo phạm vi nguồn hình thành.
A – nguồn vốn bên trong nội bộ doanh nghiệp
Là nguồn vốn có thể huy động từ hoạt động của bản thân doanh nghiệp bao gồm
khấu hao tài sản, lợi nhuận để lại, các khoản dự trữ, dự phòng, các khoản thu từ
nhƣợng bán, thanh lý tài sản cố định.
B – Nguồn hình thành từ ngoài doanh nghiệp:
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm
- Nguồn tín dụng từ các khoản nợ có kì hạn mà các ngân hàng hay tổ chức
tín dụng cho doanh nghiệp vay và có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền vay
nợ theo đúng kì hạn quy định.
- Nguồn vốn từ liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp gồm nguồn vốn
vay có đƣợc do doanh nghiệp liên doanh, liên kết từ các doanh nghiệp để
phục vụ cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Nguồn vốn huy động thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu. Việc
phát hành những chứng khoán có giá trị này cho phép các doanh nghiệp có
thể thu hút số tiền rộng rãi nhàn rỗi trong xã hội phục vụ cho huy động vốn
dài hạn của doanh nghiệp.
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 12

Dựa theo cách phân loại này cho phép các doanh nghiệp thấy đƣợc lợi thếgiúp
doanh nghiệp có thể chủ động trong việc huy động nguồn vốn. Đồng thời do nhu
cầu thƣờng xuyên cần vốn doanh nghiệp phải tích cực huy động vốn, không trông
chờ ỷ lại vào các nguồn vốn sẵn có.
Đối với các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp có thể toàn quyền tự chủ sử dụng
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp mà không
phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn đến việc sử
dụng vốn kém hiệu quả.Huy động vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp có cơ
cấu tài chính linh hoạt. Do doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn
nên doanh nghiệp phải cố gắng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính vì thế,
doanh nghiệp có thể vay vốn từ bên ngoài để làm tăng nội lực vốn bên trong.
1.1.5 – Các nguồn huy động vốn
1.1.5.1 – Tự cung ứng
Cung ứng vốn nội bộ là phƣơng thức tự cung cấp vốn của doanh nghiệp. Trong
các doanh nghiệp các phƣơng thức tự cung ứng vốn cụ thể là:
A – Điều chỉnh cơ cấu tài sản.
Phƣơng thức này tuy không làm tăng tổng tài sản sản xuất kinh doanh nhƣng lại
có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở
giảm giá vốn ở những nơi không cần thiết. Do môi trƣờng kinh doanh biến động
nhiệm vụ kinh doanh thay đổi nên trong kinh doanh luôn diễn ra hiện tƣợng thừa
tài sản này nhƣng lại thiếu tài sản khác. Điều chỉnh cơ cấu tài sản chính là việc
kịp thời có các giải pháp bán các TSCĐ dƣ thừa, không (chƣa) sử dụng đến. Mặt
khác, trên cơ sở thƣờng xuyên kiểm tra tính toán và xác định lại mức dự trữ tài
sản lƣu động trên cơ sở ứng dụng mô hình dự trữ tối ƣu nhằm giảm lƣu kho
TSCĐ không cần thiết, đảm bảo lƣợng lƣu kho mỗi loại TSCĐ hợp lí.
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 13

B – Khấu hao tài sản cố định.
TSCĐ là những tƣ liệu lao động tham gia vào nhiều quá trình sản xuất. Trong quá
trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn và chuyển dần giá trị vào giá thành sản
phẩm. Hao mòn TSCĐ là một quá trình mang tính khách quan, phụ thuộc vào
nhân tố nhƣ chất lƣợng của bản thân TSCĐ, các yếu tố tự nhiên, cƣờng độ sử
dụng TSCĐ… Trong quá trình sử dụng TSCĐ doanh nghiệp phải xác định độ hao
mòn và giá trị của sản phẩm đƣợc sản xuất ra từ TSCĐ đó cũng nhƣ ý muốn chủ
quan của con ngƣời. Đối với các doanh nghiệp Nhà Nƣớc trong quá trình khấu
hao TSCĐ phụ thuộc vào ý đồ của Nhà Nƣớc thông qua quy định, chính sách cụ
thể ở từng thời kì. Các doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và
phƣơng pháp tính khấu hao cụ thể. Trong chính sách tài chính cụ thể ở từng thời
kì, doanh nghiệp có thể lựa chọn và điều chỉnh khấu hao cố định và coi đây là
công cụ điều chỉnh cơ cấu vốn bên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần chú ý rằng
việc điều chỉnh khấu hao không thể diễn ra một cách tùy tiện, không có kế hoạch
mà phải dựa trên các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn đã xác định. Mặt
khác, cần chú ý rằng điều chỉnh tăng khấu hao TSCĐ sẽ dẫn đến tăng chi phí kinh
doanh khấu hao TSCĐ trong giá thành sản phẩm nên luôn khống chế bởi giá bán
sản phẩm.
C – Tích lũy tái đầu tƣ.
Tích lũy tái đầu tƣ luôn đƣợc các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tài chính
quan trọng vì nó có ƣu điểm cơ bản sau:
- Doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động.
- Giảm sự phụ thuộc vào nhà cung ứng.
- Giúp các doanh nghiệp tăng thêm tiềm lực tài chính làm giảm tỉ lệ
nợ/vốn.Càng có ý nghĩa với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện
chƣa tạo đƣợc uy tín với nhà cung ứng tài chính.
Quy mô tự cung ứng vốn tích lũy tái đầu tƣ tùy thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu là
tổng số lợi nhuận thu đƣợc trong từng thời kì kinh doanh cụ thể và chính sách
phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tổng số lợi nhuận cụ thể thu
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Vật
Tư Nông Nghiệp I Hải Phòng

Nguyễn Thị Giang_QT1003N 14

đƣợc trong từng thời kì phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lƣợng hoạt động
kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kì đó. Chính sách phân phối lợi
nhuận trƣớc hết tùy thuộc vào từng loại doanh nghiệp
Tuy nhiên, phƣơng thức tự cung ứng vốn cũng có những hạn chế cơ bản là quy
mô cung ứng vốn là nhỏ và nguồn bổ sung có giới hạn.
1.1.5.2 – Các phƣơng thức cung ứng bên ngoài.
A – Cung ứng vốn từ ngân sách nhà nƣớc.
Với hình thức cung ứng từ ngân sách nhà nƣớc doanh nghiệp sẽ nhận
đƣợc lƣợng vốn xác định từ ngân sách nhà nƣớc cấp. Thông thƣờng hình thức này
không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp đƣợc cấp vốn nhƣ
các hình thức vốn huy động khác nhau.
Tuy nhiên, càng ngày hình thức cung ứng vốn từ ngân sách nhà nƣớc đối
với các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp về cả quy mô và phạm vi cung cấp vốn.
Hiện nay, đối tƣợng đƣợc cung cấp vốn theo hình thức này thƣờng phải là các
doanh nghiệp nhà nƣớc xác định duy trì để đóng vai trò điều tiết nền kinh tế; các
dự án đầu tƣ ở lĩnh vực sản xuất hàng hóa công cộng; hoạt động công ích mà tƣ
nhân không muốn và không có khả năng đầu tƣ; các dự án lớn có tầm quan trọng
đặc biệt do nhà nƣớc đầu tƣ.
B – Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu.
Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp đƣợc cung
ứng trực tiếp từ thị trƣờng chứng khoán. Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức
này, doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trƣờng chứng
khoán. Hình thức cung ứng vốn này có đặc trƣng cơ bản là tăng vốn không làm
tăng nợ của doanh nghiệp bởi những ngƣời chủ sở hữu cổ phiếu thành những cố
đông của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đƣợc phép khai thác nguồn vốn
này mà chỉ những doanh nghiệp đƣợc phát hành cổ phiếu ( công ty cổ phần,
doanh nghiệp nhà nƣớc có quy mô lớn).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét