3.2.2.1.Ki n ngh v giai o n ti p c n khách h ng v l p k ho ch ế ị ề đ ạ ế ậ à à ậ ế ạ
109
+)T ng c ng s d ng ph n m m ki m toánă ườ ử ụ ầ ề ể 113
3.2.2.2. Ki n ngh v quy trình th c hi n ki m toán chu trình mua ế ị ề ự ệ ể
h ng v thanh toán.à à 113
5
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những sự kiện nổi bật gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế của
Việt Nam là ngày 11/11/2006 Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Điều đó có
nghĩa là chúng ta đang hòa nhập trong một nền kinh tế phát triển rất sôi động và
cạnh tranh gay gắt. Đứng trước các cơ hội và thách thức khi gia nhập nền kinh tế
thế giới, các doanh nghiệp không những phải đổi mới phương thức sản xuất để có
được những sản phẩm có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh mà còn phải chú trọng
đặc biệt tới công tác hạch toán kế toán. Trên thực tế, trình độ công tác kế toán của
các doanh nghiệp còn tồn tại nhiều hạn chế. Do đó để cho các doanh nghiệp hoạt
động đúng hướng và hiệu quả hơn thì công tác kiểm toán là vô cùng quan trọng và
cần thiết.
Là sinh viên kinh tế năm cuối chuyên nghành kiểm toán, sau gần bốn năm
học trong nhà trường em đã được trang bị những kiến thức về mặt lý thuyết một
cách sâu rộng. Việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành là một nguyên
tắc quan trọng quyết định sự thành công của việc học tập và nghiên cứu. Trong
giai đoạn thực tập tại Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán
AASC và được trực tiếp tìm hiểu và tham gia thực tế công tác kiểm toán của
Công ty dưới sự giúp đỡ của thầy giáo Thạc sĩ Đinh Thế Hùng và các
anh chị tại phòng kiểm toán sản xuất vật chất đã giúp em nắm được đặc
điểm, tình hình và qui trình hoạt động của đơn vị AASC.
Chu trình mua hàng và thanh toán là chu trình kiểm toán quan trọng trong
kiểm toán BCTC. Nhận thức được tầm quan trọng của công việc kiểm toán
BCTC nói chung, cũng như kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán nói
riêng, qua lý luận được trang bị ở trường, trong thời gian thực tập tại AASC em
đã chọn đề tài “Kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán trong quy trình
kiểm toán BCTC do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
thực hiện”.
6
Nội dung của khoá luận tốt nghiệp bao gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán
báo cáo tài chính.
Chương2: Thực trạng quy trình kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán
trong kiểm toán BCTC do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán-AASC thực hiện
Chương 3: Nhận xét và kiến nghị về quy trình kiểm toán chu trình mua
hàng và thanh toán trong kiểm toán BCTC do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán-AASC thực hiện
Bài viết này được hoàn thiện dưới sự giúp đỡ của thầy giáo Ths. Đinh Thế
Hùng và các anh chị kiểm toán của Công ty AASC.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA
HÀNG VÀ THANH TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. Khái quát chung về kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1. Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính
Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nói đến kiểm toán
thường là nói đến kiểm toán độc lập và chủ yếu là kiểm toán BCTC, nên có nhiều
quan điểm đồng nhất giữa kiểm toán độc lập với kiểm toán BCTC. Theo định
nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (International Federation of Accountants -
IFAC) thì: “Kiểm toán là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của KTV độc lập về
BCTC”. Theo định nghĩa trong chuẩn mực kế toán của Vương quốc Anh thì:
“Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính
của một đơn vị do KTV được bổ nhiệm để thực hiện công việc đó theo đúng với
bất cứ nghĩa vụ và pháp định có liên quan.Theo định nghĩa của Hiệp hội Kế toán
Mỹ (American Accounting Association - AAA) thì: “Kiểm toán là quá trình có
hệ thống nhằm thu nhập, đánh giá bằng chứng có liên quan đến việc xác nhận của
KTV chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp
lý của các tài liệu, sổ kế toán và BCTC của các doanh nghiệp, hội đồng, tổ chức
đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của đơn vị này”.
Qua các định nghĩa và các quan điểm nêu trên có nhiều cách giải thích khác
nhau về kiểm toán BCTC nhưng chúng đều khẳng định đối tượng kiểm toán
BCTC là các BCTC, chủ thể kiểm toán BCTC là các KTV chuyên nghiệp. Từ đó
ta có thể kết luận nói chung kiểm toán BCTC là sự kiểm tra và trình bày ý kiến
nhận xét của KTV về tính trung thực, hợp lý, hợp thức và tính hợp pháp của
BCTC.
1.1.2. Đối tượng kiểm toán BCTC
Đối tượng kiểm toán BCTC là các BCTC do đơn vị được kiểm toán (khách
hàng) lập ra. Theo VSA số 200 - "Mục tiêu và các nguyên tắc cơ bản chi phối
8
kiểm toán BCTC" thì:" BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế,
tài chính chủ yếu của đơn vị". Các BCTC đều chứa đựng những thông tin kinh tế,
tài chính được lập ra tại một thời điểm cụ thể trên cơ sở những tài liệu, chứng từ
và những thông tin liên quan khác. Bởi vậy, để có những bằng chứng đủ sức
thuyết phục, tin cậy về mọi khía cạnh nhằm đưa ra ý kiến về BCTC của khách
hàng thì KTV phải tiến hành kiểm toán những tài liệu, chứng từ và những thông
tin liên quan đến BCTC theo những phương pháp kỹ thuật cụ thể.
Mỗi thông tin trong BCTC đều mang trong nó nhiều mối quan hệ theo
những hướng khác nhau: giữa khoản mục này với các khoản mục khác có liên
quan, giữa số tiền ghi trong khoản mục với số dư hoặc số phát sinh của những tài
khoản tương ứng, giữa các thông tin trên từng khoản mục với các nguyên tắc xác
lập chúng… Bởi vậy, kiểm toán BCTC thực chất là kiểm toán các tài liệu kế toán,
các hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp. Nói một cách
khác đối tượng kiểm toán BCTC có thể được chi tiết như sau:
- Các tài liệu kế toán;
- Hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp;
- Tài sản và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh;
- Việc chấp hành luật pháp, chính sách chế độ và những quy định về tài
chính kế toán.
Khi tiến hành kiểm toán BCTC, KTV có thể tiếp cận theo hai hướng là
theo khoản mục hoặc theo chu trình.
Tiếp cận BCTC theo khoản mục là cách mà KTV phân chia BCTC thành
từng khoản mục hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong BCTC.
Tiếp cận BCTC theo chu trình là cách phân chia BCTC thành các chu trình
căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu
thành, các yếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính.
9
1.1.3. Mục tiêu của kiểm toán BCTC
BCTC của các doanh nghiệp dành được sự quan tâm của nhiều đối tượng
khác nhau như Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, các
nhà đầu tư, các nhà cung cấp… tuy mỗi đối tượng quan tâm đến BCTC ở các góc
độ khác nhau song tựu chung lại, họ đều cần một BCTC trung thực và có độ tin
cậy cao.
Mục tiêu của kiểm toán BCTC là nhằm xác định độ tin cậy của BCTC, làm
căn cứ để doanh nghiệp quyết toán thuế đối với Nhà nước và các đối tượng sử
dụng thông tin đưa ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ. Như vậy, thông
tin trên BCTC đã được kiểm toán là thông tin đáng tin cậy và có ý nghĩa quan
trọng đối với bản thân doanh nghiệp, Nhà nước và bên thứ ba.
Tại VSA số 200 - "Mục tiêu và các nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán
BCTC" - đoạn 11 nêu rõ: "Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và
công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có
phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?"
Có thể nói rằng sự tham gia của KTV làm tăng thêm độ tin cậy đối với
BCTC của doanh nghiệp. Tuy nhiên, người sử dụng BCTC đã được kiểm toán
phải có hiểu biết về chuẩn mực kiểm toán để tránh nhầm tưởng rằng ý kiến KTV
là sự bảo đảm về khả năng tồn tại của doanh nghiệp trong tương lai và việc kiểm
toán BCTC làm giảm trách nhiệm của Giám đốc doanh nghiệp được kiểm toán
đối với BCTC.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp được kiểm toán kiểm toán BCTC còn
giúp cho doanh nghiệp thấy được những tồn tại, sai sót của hệ thống kế toán và
hệ thống KSNB. Từ đó, có thể nâng cao chất lượng công tác hạch toán kế toán và
quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp.
10
1.1.4. Phương pháp kiểm toán BCTC
Kiểm toán BCTC hướng tới việc bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng chứng
kiểm toán, để có được những bằng chứng này, KTV cần vận dụng các phương
pháp kỹ thuật nghiệp vụ cụ thể nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán đặt ra. Xét
trên góc độ quá trình ghi chép xử lý, kiểm soát các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để
phản ánh vào BCTC người ta chia ra hai loại phương pháp kiểm toán đó là
phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ.
1.1.4.1. Phương pháp kiểm toán cơ bản (thử nghiệm cơ bản)
Phương pháp kiểm toán cơ bản là phương pháp kiểm toán được thiết kế, sử
dụng để thu nhập các bằng chứng kiểm toán có liên quan đến số liệu do kế toán
cung cấp. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là mọi thử nghiệm, phân tích,
đánh giá đều dựa vào số liệu do kế toán cung cấp. Phương pháp kiểm toán cơ bản
gồm kỹ thuật phân tích và kỹ thuật kiểm tra chi tiết.
Kỹ thuật phân tích là việc xem xét số liệu trên BCTC thông qua mối quan
hệ và tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trên BCTC. Kỹ thuật này giúp KTV khai thác bằng
chứng kiểm toán nhanh chóng thông qua việc xác định những sai lệch về thông
tin, những chỉ tiêu bất thường trên BCTC từ đó KTV xác định mục tiêu, phạm
vi, quy mô, khối lượng công việc cần thực hiện.
Kỹ thuật khảo sát chi tiết các nghiệp vụ và số dư tài khoản
Kỹ thuật khảo sát chi tiết nghiệp vụ là kỹ thuật xem xét các nghiệp vụ từ khi
phát sinh đến khi lập BCTC.
Kỹ thuật khảo sát chi tiết số dư tài khoản là kỹ thuật tìm các cơ sở dẫn liệu
của số dư các tài khoản.
Việc sử dụng kết hợp hai kỹ thuật này cho phép KTV có thể dễ dàng phát
hiện ra những gian lận và sai sót trong quá trình ghi chép và xử lý số liệu. Đồng
thời nó khẳng định và tăng thêm độ tin cậy của những bằng chứng đã thu thập, để
11
từ đó KTV quyết định có mở rộng hay thu hẹp quy mô mẫu kiểm toán cần thử
nghiệm.
1.1.4.2. Phương pháp kiểm toán tuân thủ (thử nghiệm kiểm soát)
Phương pháp kiểm toán tuân thủ là phương pháp kiểm toán được thiết kế và
sử dụng để thu nhập các bằng chứng về tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống
KSNB. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là mọi thử nghiệm phân tích,
đánh giá và kiểm tra đều dựa vào quy chế KSNB của doanh nghiệp. Do vậy điều
kiện áp dụng đối với phương pháp này là hệ thống KSNB của doanh nghiệp phải
mạnh, hiệu quả và KTV có thể tin tưởng vào hệ thống KSNB đó. Phương pháp
kiểm toán tuân thủ gồm kỹ thuật kiểm tra các hệ thống và thử nghiệm chi tiết về
kiểm soát.
Kỹ thuật kiểm tra các hệ thống là việc kiểm tra chi tiết một loạt các
nghiệm vụ cùng loại ghi chép từ đầu đến cuối của một hệ thống để xem xét đánh
giá các bước kiểm soát trong hệ thống KSNB của doanh nghiệp.
Thử nghiệm chi tiết về kiểm soát là các thử nghiệm được tiến hành để thu
thập các bằng chứng về sự hữu hiệu của các quy chế KSNB trong doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV luôn phải kết hợp chặt chẽ hai phương
pháp này vì phạm vi và mức độ vận dụng phương pháp kiểm toán cơ bản tuỳ
thuộc vào tính hiệu quả của hệ thống KSNB doanh nghiệp; Trong khi đó việc
đánh giá tính hiệu quả của hệ thống KSNB lại được thực hiện bởi phương pháp
kiểm toán tuân thủ.
1.2. Chu trình mua hàng thanh toán và hạch toán chu trình
1.2.1. Bản chất của chu trình mua hàng thanh toán.
Chu trình mua vào và thanh toán gồm các quyết định và các quá trình cần
thiết để có hàng hoá và dịch vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Chu trình thường được bắt đầu bằng việc lập một đơn đặt mua
của người có trách nhiệm tại bộ phận cần hàng hoá hay dịch vụ và kết thúc bằng
việc thanh toán cho nhà cung cấp về hàng hoá hay dịch vụ nhận được.
12
Quá trình mua vào của hàng hoá hay dịch vụ bao gồm những khoản mục
như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vật tư, điện nước, sửa chữa và bảo trì,
nghiên cứu và phát triển… Chu trình này không bao gồm quá trình mua và
thanh toán các dịch vụ lao động hoặc những sự chuyển nhượng và phân bổ của
chi phí ở bên trong tổ chức.
1.2.2. Chức năng của chu trình mua hàng và thanh toán
Các chức năng của chu trình được bàn đến theo trình tự mà chúng phát sinh
trong một chu trình nghiệp vụ điển hình. Chu trình mua vào và thanh toán thường bao
gồm 4 chức năng cơ bản sau:
1. Xử lý các đơn đặt hàng hoá hay dịch vụ
2. Nhận hàng hoá hay dịch vụ
3. Ghi nhận các khoản nợ người bán
4. Xử lý và ghi sổ các khoản thanh toán cho người bán
* Xử lý các đơn đặt hàng hoá và dịch vụ
Lập đơn đặt hàng gửi cho nhà cung cấp đây được coi là điểm khởi đầu của
chu trình. Mẫu của đơn đặt hàng và sự phê chuẩn quy định phụ thuộc vào bản
chất của hàng hóa dịch vụ và quy định của công ty.
Sự phê chuẩn đúng đắn nghiệp vụ mua hàng là phần chính của chức năng
này vì nó bảo đảm hàng hóa và dịch vụ được mua theo các mục đích đã được
phê chuẩn của công ty và tránh cho việc mua quá nhiều hoặc mua các mặt hàng
không cần thiết. Hầu hết các công ty cho phép một sự phê chuẩn chung cho việc
mua phục vụ các nhu cầu hoạt động thường xuyên như hàng tồn kho ở mức cho
phép (phù hợp với định mức hàng tồn kho). Các trường hợp có thể xảy ra, các
lần mua tài sản thường xuyên vượt quá một giới hạn tiền nhất định nào đó có thể
yêu cầu sự phê chuẩn của Hội đồng quản trị; các mặt hàng được mua tương đối
không thường xuyên, như các hợp đồng dịch vụ dài hạn thì được phê chuẩn
bằng các viên chức nhất định; vật tư và các dịch vụ có giá trị thấp hơn một giá
trị quy định thì được phê chuẩn bởi quản đốc và trưởng phòng; và một số loại
nguyên liệu và vật tư được tự động tái đặt hàng bất cứ lúc nào chúng ở mức giới
hạn ấn định trước. Sau khi việc mua đã được phê chuẩn thì phải có đơn để đặt
13
mua hàng hóa hoặc dịch vụ. Một đơn dặt hàng đựợc gửi cho người bán ghi rõ
mặt hàng cụ thể ở một mức giá nhất định, được giao vào một ngày quy định.
Đơn đặt hàng được xem như một chứng từ hợp pháp và được xem như một đề
nghị để mua hàng hóa hay dịch vụ. Trong một số trường hợp khác, nếu người
mua va người bán mới có quan hệ giao dịch hoặc thực hiện những giao dịch lớn
và phức tạp thì đòi hỏi phải ký kết hợp đồng cung ứng hàng hóa hay dịch vụ
nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia
hợp đồng.
* Nhận hàng hoá hay dịch vụ
Việc nhận hàng hoá từ người bán là một điểm quyết định trong chu trình
mua hàng và thanh toán vì đây là thời điểm mà tại đó bên mua thừa nhận khoản
nợ liên quan đối với bên bán trên sổ sách của họ. Bộ phận mua hàng của công ty
sẽ căn cứ vào đơn đặt hàng tiến hành quá trình kiểm soát thích hợp về mẫu mã,
số lượng, thời gian đến và các điều kiện khác. Sau đó sẽ ký nhận trên phiếu giao
hàng của người bán, đồng thời bộ phận này cũng lập báo cáo nhận hàng như một
bằng chứng của sự nhận hàng và sự kiểm tra hàng hoá. Một bản sao thường
được gửi cho thủ kho để thủ kho làm căn cứ nhận hàng ghi vào phiếu nhập kho
và theo dõi trên thẻ kho và một bản khác gửi cho kế toán các khoản phải trả để
thông báo. Để ngăn ngừa sự mất mát và sự lạm dụng thì điều quan trọng là hàng
hoá phải được kiểm soát một cách chặt chẽ từ lúc nhận chúng cho đến khi chúng
được chuyển đi. Nhân viên trong phòng tiếp nhận phải được độc lập với thủ kho
và phòng kế toán. Cuối cùng, sổ sách kế toán (kế toán vật tư và kế toán chi phí)
sẽ phản ánh việc chuyển giao trách nhiệm đối với hàng hoá khi hàng hoá được
chuyển từ phòng tiếp nhận qua kho và từ kho vào quá trình sản xuất hay đưa đi
tiêu thụ.
* Ghi nhận các khoản nợ người bán
Việc ghi nhận đúng đắn khoản nợ người bán về hàng hoá hay dịch vụ
nhận được là rất quan trọng nên đòi hỏi việc ghi sổ chính xác và nhanh
chóng.Việc ghi sổ ban đầu có ảnh hưởng quan trọng đến BCTC và đến khoản
thanh toán thực tế, do đó, kế toán chỉ được phép ghi vào các lần mua có cơ sở
hợp lý theo số tiền đúng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét