Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

22 Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí nghiệp xây lắp Xí nghiệp xây lắp H36

Luận văn Tốt nghiệp
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT & TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 SỰ CẦN THIẾT TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1.1 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp xây lắp
Chúng ta biết rằng, một trong những yếu tố cần thiết đem lại thành công
cho doanh nghiệp, đó là khâu quản lí. Không những yêu cầu quản lí tốt về mặt
tình hình chung mà còn cả đối với các mặt cụ thể diễn ra trong quá trình hoạt
động kinh doanh. Trong đó yêu cầu đối với chi phí sản xuất và tính giá thành
sản xuất đóng vai trò rất quan trọng vì chúng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp, do đó chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải
được quản lí chặt chẽ, linh hoạt từ khâu lập dự toán, trong giai đoạn phát sinh
đến khi tổng hợp cuối kì để vừa đầu tư chi phí hợp lí - cơ sở để tính giá thành
sản phẩm xây lắp vừa đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm
1.1.2.1 Vai trò
Nền kinh tế thị trường với những đổi mới thực sự trong cơ chế quản lý
kinh tế - tài chính đã khẳng định vai trò, vị trí của kế toán trong quản trị
doanh nghiệp. Bằng những số liệu cụ thể, chính xác, khách quan và khoa học,
kế toán được coi là một công cụ để điều hành, quản lý các hoạt động, tính
toán hiệu quả kinh tế và kiểm tra bảo vệ, sử dụng tài sản vật tư, tiền vốn nhằm
đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chủ về tài chính.
Trong đó vai trò kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng không
kém phần quan trọng.
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
5
Luận văn Tốt nghiệp
Thông qua số liệu hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành do bộ
phận kế toán cung cấp, các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp biết được chi
phí và giá thành thực tế từng công trình, hạng mục công trình, để phân tích và
đánh giá tình hình thực hiện các định mức, dự toán chi phí, tình hình sử dụng
lao động, vật tư, tiền vốn, tiết kiệm hay lãng phí, tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành sản phẩm, từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu kịp thời nhằm hạ thấp
chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp đồng thời đảm bảo được yêu cầu kĩ
thuật của sản phẩm.
1.1.2.2 Nhiệm vụ
Để đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh tế, kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tính giá
thành phù hợp với đặc điểm quy trình công nghệ đặc điểm tổ chức sản xuất
của doanh nghiệp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất để xác định bằng phương pháp thích hợp đã
chọn.
- Xác định chính xác chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Thực hiện tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác theo đúng đối
tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành hợp lý.
- Định kỳ, cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành cho
lãnh đạo doanh nghiệp và tiến hành phân tích tình hình thực hiện định mức,
dự toán chi phí sản xuất, tình hình thực hiện kế hoạch, giá thành, đề xuất các
kiến nghị cho lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định thích hợp, trước
mắt cũng như lâu dài đối với sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2 CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.2.1 Chi phí sản xuất
1.2.1.1 Khái niệm
Chi phí sản xuất là tổng số các hao phí lao động sống và lao động vật
hoá được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
6
Luận văn Tốt nghiệp
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm chi phí sản xuất xây
lắp và chi phí sản xuất ngoài xây lắp. Các chi phí sản xuất xây lắp cấu thành
giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong
lĩnh vực hoạt động sản xuất xây lắp, nó là bộ phận cơ bản để hình thành giá
thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1.2 Bản chất và nội dung của chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất chính là thước đo giá trị (bằng tiền) của tất cả các yếu tố
đầu vào để cấu tạo lên sản phẩm xây lắp. Đó là những phí tổn về lao động, vật
tư, tiền vốn. Từ đó ta thấy được chi phí khác với chi tiêu và cũng khác với
vốn. Chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và được bù đắp bằng thu nhập
hoạt động sản xuất kinh doanh; chi tiêu là việc dùng tiền để chi cho các hoạt
động ngoài sản xuất kinh doanh, có thể lấy từ các quỹ của doanh nghiệp và
không được bù đắp. Còn vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả tài sản được sử
dụng vào hoạt động sản xuất với mục đích sinh lời nhưng không phải đều là
phí tổn.
1.2.1.3. Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất gồm nhiều loại có công dụng và mục đích khác nhau
trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp xây lắp
chi phí sản xuất được phân thành các loại sau:
 Theo yếu tố chi phí: Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để sắp
xếp những chi phí có nội dung kinh tế ban đầu giống nhau vào cùng một
nhóm chi phí. Cách phân loại này không phân biệt nơi chi phí phát sinh và
mục đích sử dụng của chi phí. Mục đích của cách phân loại này để biết được
chi phí sản xuất của doanh nghiệp gồm những loại nào, số lượng, giá trị từng
loại chi phí là bao nhiêu
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: gồm toàn bộ giá trị các loại nguyên liệu,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản… mà doanh
nghiệp đã thực sự sử dụng cho hoạt động sản xuất
- Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương tiền công phải trả, tiền
trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân viên chức trong doanh nghiệp.
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
7
Luận văn Tốt nghiệp
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ giá trị khấu hao phải trích của các
TSCĐ sử dụng trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về
các dịch mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí khác bằng tiền: Gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố chi phí trên như chi phí
tiếp khách hội họp…
 Theo khoản mục chi phí: Cách phân loại này dựa trên công dụng của
chi phí trong quá trình sản xuất và phương pháp tập hợp chi phí có tác dụng
tích cực cho việc phân tích giá thanh theo khoản mục chi phí. Mục đích của
cách phân loại này để tìm ra các nguyên nhân làm thay đổi giá thành so với
định mức và đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là giá trị thực tế của các loại nguyên
vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất xây lắp.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản tiền lương phải trả và
các khoản tính theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất. Các khoản phụ
cấp lương tiền ăn ca, tiền công phải trả cho lao động thuê ngoài cũng được
hạch toán vào khoản mục này.
- Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí thường xuyên và chi
phí tạm thời sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí phát sinh ở đội, bộ phận
sản xuất ngoài các chi phí sản xuất trực tiếp như:
+ Chi phí nhân viên quản lí đội sản xuất gồm lương chính, lương phụ và
các khoản tính theo lương của nhân viên quản lí đội (bộ phận sản xuất)
+ Chi phí vật liệu: Gồm giá trị vật liệu dùng để sửa chữa bảo dưỡng
TSCĐ, các chi phí công cụ dụng cụ ở đội xây lắp.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng ở đội xây lắp, đội sản xuất
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài như chi phí điện nước, điện thoại sử dụng
cho sản xuất và quản lí ở đội xâylắp.
 Theo mối quan hệ giữa chi phí và khối lượng sản phẩm sản xuất
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
8
Luận văn Tốt nghiệp
- Chi phí cố định: Là những chi phí mang tính tương đối ổn định không
phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất trong một mức sản lượng nhất
định. Khi sản lượng tăng thì mức chi phí tính trên một sản phẩm có xu hướng
giảm.
- Chi phí biến đổi: là những chi phí thay đổi phụ thuộc vào số lượng sản
phẩm. Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sử dụng máy …thuộc chi phí biến đổi. Dù sản lượng sản phẩm sản xuất
thay đổi nhưng chi phí biến đổi cho một sản phẩm thì mang tính ổn định.
Cách phân loại này có vai trò quan trọng trong phân tích điểm hoà vốn
phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản lý.
1.2.2 Giá thành sản phẩm
1.2.2.1 Khái niệm và bản chất của giá thành
Khái niệm: Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí tính bằng
tiền để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây, lắp theo quy định. Sản phẩm xây
lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giao laị công việc có thiết kế và dự toán
riêng, có thể là công trình hay hạng mục công trình.
Giá thành của công trình hay hạng mục công trình là giá thành cuối
cùng của sản phẩm xây lắp.
Bản chất: Giá thành chính là thước đo cuối cùng của tất cả các chi phí
sản xuất cấu thành lên sản phẩm. Chỉ tiêu giá thành thể hiện kết quả hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp, kết quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào
để sản xuất sản phẩm, để từ đó nhà quản lí lựa chọn được các phương án sản
xuất sao cho tối ưu nhất.
1.2.2.2 Phân loại giá thành
Trong doanh nghiệp sản xuất, giá thành gồm nhiều loại được chia theo
các tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên do đặc thù riêng của ngành xây dựng cơ
bản thì giá thành sản phẩm xây lắp được chia thành ba loại sau:
 Giá thành dự toán: Là tổng các chi phí dự toán để hoàn thành khối
lượng xây, lắp công trình. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các
định mức, quy định của Nhà nước và khung giá áp dụng cho từng vùng lãnh
thổ.
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Lợi nhuận định mức
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
9
Luận văn Tốt nghiệp
Lãi định mức là số % trên giá thành xây lắp do Nhà nước quy định đối
với từng loại hình xây lắp, từng sản phẩm xây lắp cụ thể.
 Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định xuất phát từ những
điều kiện cụ thể ở một doanh nghiệp xây, lắp nhất định trên cơ sở biện pháp
thi công, các định mức và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán – Mức hạ giá thành
 Giá thành thực tế: Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành
bàn giáo khối lượng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá thành thực tế
bao gồm chi phí theo định mức, vượt định mức và không định mức như các
khoản thiệt hại trong sản xuất, các khoản bội chi, lãng phí về vật tư, lao động
tiền vốn trong quá trình sản xuất và quản lí của doanh nghiệp được phép tính
vào giá thành. Giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán.
Muốn đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất thi công của công tác xây
lắp đòi hỏi chúng ta phải so sánh các loại giá thành trên với nhau. Về so sánh
các loại giá thành này phải đảm bảo sự thống nhất về thời điểm và dựa trên
cùng đối tượng tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình hoặc
khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao). Mục đích cuối cùng của doanh
nghiệp là lợi nhuận để đạt được mục đích đó thì các doanh nghiệp xây lắp
luôn phải đảm bảo:
Giá thành dự toán ≥ Giá thành kế hoạch ≥ Giá thành thực tế.
1.2.3 Mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối tương quan mật thiết với
nhau. Khi tiến hành hoạt động xây lắp, doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí về
vật tư, lao động, máy móc, thiết bị và các chi phí khác. Tất cả các yếu tố đó
tập hợp lại được gọi là chi phí sản xuất. Sau một thời gian nhất định, các yếu
tố đó tạo thành một sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh. Kết quả của một quá trình
sử dụng các yếu tố sản xuất thể hiện ở chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Do vậy cả
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt thống nhất của một quá
trình, quá trình sản xuất sản phẩm. Chúng bao gồm chi phí về lao động sống
và lao động vật hoá kết tinh trong sản phẩm. Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về quy mô giá trị, phạm vi tập hợp…
Điều này được thể hiện khái quát qua hình vẽ sau:
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
10
Luận văn Tốt nghiệp
Chi phí xây lắp
Dở dang cuối kì
Chi phí xây lắp phát sinh trong kì
Giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí xây lắp
dở dang cuối kì
Khi giá trị sản phẩm xây lắp dở dang (chi phí xây lắp dở dang) đầu kỳ và
cuối kỳ bằng nhau hoặc khi không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản
phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
1.3 CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.3.1 Nguyên tắc hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
lắp
Trước hết các doanh nghiệp cần xác định rõ đối tượng, phương pháp
hạch toán chi phí, phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm của đơn vị và phải thực
hiện đúng theo chế độ.
Cụ thể là phải xác định được nội dung và phạm vi của chi phí xây lắp và
giá thành của các công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Khác với các
doanh nghiệp công nghiệp khác, chi phí nhân công trực tiếp trong các doanh
nghiệp xây dựng cơ bản không bao gồm các khoản trích theo lương (BHXH,
BHYT, KPCĐ). Chi phí xây lắp không bao gồm chi phí quản lý doanh
nghiệp, tuy thực chất chi phí quản lý cũng là để phục vụ cho quá trình thi
công và hoàn thành bàn giao công trình cho chủ đầu tư. Những khoản chi phí
như: chi phí đầu tư, chi phí hoạt động tài chính, chi phí bất thường cũng
không được tính vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Những chi phí
liên quan đến nhiều kì kế toán thì phải tiến hành phân bổ cho từng kì theo tiêu
thức hợp lí. Khi phát sinh, trước hết chi phí sản xuất được biểu hiện theo yếu
tố chi phí rồi mới được biểu hiện thành các khoản mục giá thành sản phẩm.
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
Giá thành
sản phẩm
Xây lắp
=
Chi phí xây
lắp dở dang
đầu kì
+
Chi phí xây
lắp PS trong

-
Chi phí xây
lắp dở dang
cuối kì
11
Luận văn Tốt nghiệp
Chi phí phải được ghi sổ kế toán tại thời điểm phát sinh dựa trên cơ sở là các
hoá đơn, chứng từ, phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát
sinh chi phí. Chi phí phát sinh ở công trình hay hạng mục công trình nào thì
được tập hợp vào công trình hay hạng mục công trình đó
Hiện nay, Nhà nước ta quản lý rất chặt chẽ về chi phí, giá thành sản
phẩm xây lắp thông qua các quy định cụ thể về việc lập dự toán xây lắp. Điều
này giúp cho các doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ hơn. Tuy nhiên các
doanh nghiệp cũng cần phải cần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
mình thông qua việc tổ chức giám sát chặt chẽ quá trình phát sinh và hạch
toán chi phí để tiết kiệm được chi phí hạ giá thành sản phẩm đồng thời phải
đảm bảo được yêu cầu kĩ thuật, chất lượng của sản phẩm xây lắp và đem lại
lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
1.3.2 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm quy, giới hạn mà chi phí sản
xuất cần tập hợp theo đó. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi
phát sinh chi phí như đội sản xuất xây lắp hoặc chịu chi phí như công trình
hay hạng mục công trình xây lắp
Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp phù hợp với yêu
cầu quản lí chi phí và cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm xây lắp cần
phải căn cứ vào:
+ Công dụng của chi phí
+ Cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
+ Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất trong từng doanh nghiệp
+ Đối tượng tính giá thành trong từng doanh nghiệp
+ Trình độ của các nhà quản lí doanh nghiệp và trình độ của các cán bộ
kế toán trong doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp xây lắp do đặc điểm của sản phẩm xây lắp
mang tính đơn chiếc, đặc trưng kỹ thuật thi công, tổ chức sản xuất phức tạp,
quá trình thi công chia làm nhiều giai đoạn nên đối tượng kế toán tập hợp chi
phí sản xuất thường được xác định là từng công trình, hạng mục công trình
hay theo từng đơn đặt hàng.
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
12
Luận văn Tốt nghiệp
1.3.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là hệ thống các phương pháp sử
dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của
đối tượng hạch toán chi phí.
Có hai phương pháp tập hợp chi phí sản xuất đó là:
 Phương pháp tập hợp trực tiếp: Phương pháp này áp dụng đối với các
chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí đã xác định
và công tác hạch toán, ghi chép ban đầu cho phép quy nạp trực tiếp các chi
phí này vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có liên quan.
 Phương pháp phân bổ gián tiếp: Phương pháp này áp dụng khi một
loại chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tập hợp
cho từng đối tượng được. Trường hợp này phải được lựa chọn tiêu thực phân
bổ thích hợp.
Thông thường các doanh nghiệp xây lắp áp dụng theo phương pháp tập
hợp trực tiếp, có nghĩa là chi phí phát sinh theo công trình, hạng mục công
trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó.
1.3.4 Chứng từ và tài khoản sử dụng
Khi tiến hành tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, để thực hiện
đúng, chính xác, dễ theo dõi, kế toán phải dựa trên các chứng từ phát sinh và
các tài khoản sử dụng.
 Chứng từ kế toán là các giấy tờ chứng minh cho các hoạt động kinh
tế sảy ra, là phương tiện thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh
và trật tự hoàn thành và là cơ sở để ghi sổ kế toán.
Cụ thể ở đây là các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình xây lắp nên có
các chứng từ như: Phiếu xuất kho, bảng chấm công, hợp đồng lao động, các
hoá đơn giá trị giá tăng, hoá đơn bán lẻ….
 Tài khoản sử dụng trong kế toán là hình thức biểu hiện của phương
pháp tài khoản kế toán dùng để phản ánh kiểm tra một cách thường xuyên liên
tục, có hệ thống về tình hình hiện có và sự biến động của từng đối tượng kế
toán cụ thể. Tài khoản kế toán được mở chi tiết theo đối tượng kế toán, hay
nói cách khác mỗi đối tượng kế toán cụ thể có nội dung kinh tế riêng, có yêu
cầu quản lí riêng sẽ mở một tài khoản riêng để phản ánh và kiểm tra đối tượng
đó.
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
13
Luận văn Tốt nghiệp
Và để cụ thể hơn áp dụng với đối tượng kế toán là các chi phí xây lắp,
các tài khoản được sử dụng như:
TK 621 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 622 Chi phí nhân công trực tiếp
TK 623 Chi phí sử dụng máy thi công
TK 627 Chi phí sản xuất chung
TK 154 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
1.3.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Vì doanh nghiệp xây lắp mang đặc thù riêng riêng của ngành xây dựng
cơ bản, hoạt động xây lắp diễn ra trong thời gian dài, nguyên vật liệu được sử
dụng theo định mức kế hoạch, khi nào cần sử dụng thì sẽ tiến hành mua.
Doanh nghiệp xây lắp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên. Do vậy cũng hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê
khai thường xuyên
1.3.5.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trong phần hành kế toán này, để theo dõi các khoản chi phí nguyên, vật
liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.
Tài khoản 621 dùng để phản ánh các chi phí nguyên liệu vật liệu sử
dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp thực
hiện lao vụ dịch vụ của doanh nghiệp xây lắp. Và tài khoản này được mở chi
tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất ).
 Kết cấu của tài khoản:
Bên Nợ: Giá trị thực tế nguyên liệu vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt
động xây lắp, kinh doanh dịch vụ trong kì hạch toán
Bên Có: + Giá trị nguyên vật liệu sử dụng không hết được nhập lại kho
+Kết chuyển hoặc tính phân bổ giá trị nguyên vật liệu thực tế sử dụng
cho hoạt động xây lắp trong kì vào TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở
dang và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành công trình xây lắp, sản
phẩm lao vụ, dịch vụ.
TK 621 Không có số dư cuối kì
 Phương pháp hạch toán
Sinh viên: Phạm Thị Khuyên - Lớp CĐKT 2- K4 Luận văn Tốt nghiệp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét