Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Nghiên cứu chất lượng nước và tôm tự nhiên trong các mô hình tôm rừng

Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

8
NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TÔM TỰ NHIÊN
TRONG CÁC MÔ HÌNH TÔM RỪNG Ở CÀ MAU
Trần Ngọc Hải
1
, Amaratne Yakupitiyage
2
và Trần Minh Nhứt
1

ABSTRACT
A year-round study on water quality of 18 mangrove-shrimp farms in the Forestry-
Fisheries Enpterprise 184 in Ca Mau province (farms with 5-yr old Rhizophora, 10-yr old
Rhizophora, 15-yr old Rhizophora, farms with mixed Avicenia-Excoecaria, farms with
Nypa, and farms without mangrove) showed that water quality parameters were not
significan tly d ifferent among the farms but strongly varied between the dry and rainy
seasons. Mangrove leaf litters which accumulated on the mangrove platform and
decomposed during rainy season caused poor water quality during this season. However,
the water parameters were still in acceptable ranges for shrimp culture. Wild shrimp
productivity was not significantly different among the farms accept those of the Nypa
farms having the highest productivity. The results indicated that different mangrove types
and ages did not strongly affect to water quality and shrimp production, and water
quality is still suitable for those organic shrimp farming systems.
Keyword: Mangrove, shrimp, organic sh rimp farming, water quality
Title: Water quality and wild shrimp productivity in the mangrove-shrimp farming
sy ste ms i n Ca Mau provi nce
TÓM TẮT
Nghiên cứu biến động chất lượng nước quanh năm ở 18 vuông tôm-rừng ở Lâm Ngư
Trường 184 – Cà Mau (vuông tôm-đước 5 tuổi, 10 tuổi, 15 tuổi, mắm-giá, dừa lá và
vuông không có rừng) cho thấy hầu hết các yếu tố thủy lý hóa sinh sai khác nhau không
có ý nghĩa thống kê (P>0,05), nhưng biến động rất lớn theo mùa vụ. Lá rừng tích lũy trên
trảng không ngập nước nhưng phân hủy đổ xuống đồng loạt vào mùa mưa làm giảm chất
lượng nước là vấn đề cần được chú ý. Tuy nh iên, cá c yếu tố môi trường vẫn trong
khoảng cho phép cho tôm nuôi. Năng suất tôm tự nhiên ở vuông có rừng sai khác không
có ý nghĩa so với vuông không rừng. Vuông có dừa lá có năng suất tôm cao nhất. Kết
quả cho thấy, với phương pháp quản lý ao như hiện nay, các loại cây rừng và tuổi rừng
khác nhau không ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước và tôm, và chất lượng nước ở các
vuông tôm rừng vẫn đảm bảo cho nghề nuôi tôm sinh thái ở Cà Mau.
Từ khóa: Rừng ngập mặn, tôm sú, nuôi tôm
1 GIỚI THIỆU
Mô hình nuôi thủy sản thân thiện với rừng (Mangrove-friendly aquaculture) đã
được hình thành từ vài thập kỷ qua ở nhiều quốc gia như Indonesia, Myanmar,
Việt nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Kenya, Tanzania và Jamaica nhằm
mục đích vừa khôi phục và bảo vệ rừng vừa phát triển kinh tế thông qua nuôi thủy
sản (Fitzgerald JR, 2000).
Ở nước ta, mô hình tôm rừng phổ biến nhất là ở Cà Mau với tổng cộng trên
48.000ha, trong đó, diện tích mặt nước dành nuôi tôm khoảng 19.000ha (Sở Thủy


1
Khoa Thủy S ản, Đại Học Cần Thơ
2
Viện Công Nghệ Châu Á, T hái Lan
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

9
sản, 2003). Mô hình tôm từng kết hợp có ưu điểm là đơn giản, đầu tư thấp, mật độ
nuôi thấp, không cần cho ăn. Vật chất phân hủy từ lá thân cây rừng sẽ là nguồn
thức ăn trực tiếp hay nguồn “phân xanh” quan trọng cho chuỗi thức ăn trong hệ
sinh thái ao nuôi (Takashima, 2000). Tùy loại rừng, lá rừng có chứa nhiều thành
phần khác nhau, phân hủy với thời gian khác nhau trong những điều kiện đặc thù
và sẽ làm giàu dinh dưỡng môi trường (Rajendran và Kathiresan, 1999). Tuy
nhiên, lượng lá rừng rơi xuống cũng thay đổi theo từng điều kiện cụ thể và có thể
làm ô nhiễm mô i trường, nhất là trong điều kiện mô hình tôm rừng kết hợp
(Fitzgerald, 2000).
Mô hình tôm-rừng kết hợp ở Cà Mau chủ yếu là rừng đước (Rhizophora) hiện nay
có độ tuổi 0-20 tuổi. Các loại cây rừng tự nhiên như mắm (Avicennia), giá
(Excoecaria) và dừa lá (Nypa) cũng phổ biến ở một số nơi trong tỉnh. Đã có nhiều
nhiên cứu về điều kiện môi trường, kỹ thuật, kinh tế xã h ội và quản lý mô hình tôm
rừng ở Cà Mau (Tuan et al., 1997, Binh et al., 1997; Jonhston, 2000; Be, 2000;
Minh et al., 2001; Christensen, 2003). Tuy nhiên, nghiên cứu và ảnh hưởng của
các loại cây rừng và tuổi rừng lên môi trường nước và tôm nuôi vẫn chưa được
thực hiện. Vì thế, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của các loại
cây rừng (đước, mắm, g iá, d ừa lá) và các độ tuổi rừng đước khác nhau lên môi
trường nước và tôm tự nhiên trong mô hình tôm rừng kết hợp để góp phần định
hướng phát triển nghề nuôi tôm sinh thái trong vùng.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện ở Lâm-Ngư Trường (LNT) 184, tỉnh Cà Mau từ tháng
2-12 năm 2003. Tổng cộng có 18 vuông tôm - rừng được chọn nghiên cứu bao
gồm: 3 vuông có rừng đước 5 tuổi; 3 vuông có rừng đước 10 tuổi; 3 vuông có rừng
đước 15 tuổi; 3 vuông có rừng hỗn hợp mắm-g iá tự nhiên; 3 vuông có dừa lá tự
nhiên; 3 vuông không có rừng (Rừng đước trồng đã khai thác toàn bộ 2 năm t rước
đó, lúc rừng đạt 15 tuổi) và 5 điểm ở kênh và sông. Các chi tiết về các vuông được
trình bày ở Bảng 1.
Mẫu nước được thu từ 18 vuông và 5 điểm ở sông trước các vuông 1, 4, 7, 12, 13.
Mỗi tháng thu 1 lần vào trước kỳ thay nước, thời gian thu mẫu từ 7 đến 12 giờ.
Các yếu tố và phương pháp phân tích như sau (APHA, 1989):
- Độ mặn: Khúc xạ kế
- pH: pH kế
- COD: Dichromate reflux method
- H
2
S: Methyl blue method
- Nitrite: NED dihydrochoride method
- TAN: Indophenol blue method
- Phosphate Ascorbic acid method
- Tannin: Folin phenol method
- Fe
2+
: Phenanthroline method
- TOM: Boy’s method, 1992
- Chlorophyll-a: Phân tích bằng cách chiết xuất với Aceton và so màu bằng
máy quang phổ.
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

10
Bảng 1: Đặc điểm các vuông tôm - rừng nghiên cứu
Mương Rừng Cống Thay nước Vuông
Vị trí Tuổi
vuông
(năm)
Tổng
diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
DT
(%)
Độ
sâu
Rộng Cây
rừng
Tuổi Mật
độ
(cây/
m
2)

Tỷ lệ
DT
(%)
Ngập
nước
(m)
Số
lượng
Rộng
(m)
Số
ngày/
tháng
%/
ngày
Rộng
kênh
(m)
1
8
o
46’ 116’’N
105
o
07’ 614’’E
10 6,3 30 0,7-
1,2
2,5 Đước 5 1 70 0-0,3 1 1 10 40 15
2
8
o
46’ 57’’ N
105
o
7’ 444’’E
10 5,0 30 Đước 5 1 70 0-0,3 1 1 10 40 15
3
8
o
45’ 970’’ N
105
o
7’ 398’’ E
10 3,9 30 0,8-
1,2
3,0 Đước 5 1 70 0-0,4 1 0,8 10 40 15
4
8
o
46’ 832’’ N
105
o
8’ 44’’ E
11 4,0 30 0,5-
1,0
2,5 Đước 10 1 70 0-0,2 1 0,7 10 40 15
5
8
o
46’ 867’’ N
105
o
8’ 45’’ E
11 5,1 30 0,7-
1,0
2,5 Đước 10 1 70 0-0,2 1 0,85 11 40 15
6
8
o
46’ 910’’ N
105
o
8’ 44’’ E
11 4,3 30 0,5-
0,8
2,5 Đước 10 1 70 0-0,3 1 0,75 11 40 15
7
8
o
49’ 778’’ N
105
o
9’ 391’’ E
15 4,8 30 0,6-
1
2,5 Đước 15 0,3 70 0-0,3 1 0,7 7 40 15
8
8
o
49’ 778’’ N
105
o
9’ 507’’ E
15 3,5 30 0,5-
0,8
4,0 Đước 15 0,3 70 0-0,4 1 1 10 30 15
9
8
o
49’ 779’’ N
105
o
9’ 699’’ E
15 4,0 30 0,6-
1,0
3,5 Đước 15 0,3 70 0-0,4 1 0,8 10 30 15
10
8
o
46’ 409’’ N
105
o
9’ 492’’ E
10 2,0 30 0,5-
1,0
2,5
Mắm-
Giá
- - 70 0-0,4 1 0,7 11 40 70
11
8
o
46’ 870’’ N
105
o
9’ 592’’ E
10 1,7 30 0,5-
1,0
3,0
Mắm-
Giá
- - 70 0-0,2 1 0,7 11 30 70
12
8
o
46’ 926’’ N
105
o
9’ 717’’ E
10 3,3 30 0,6-
1,0
2,5
Mắm-
Giá
- - 70 0-0,2 1 0,6 10 40 70
13
8
o
49’ 377’’ N
105
o
8’ 53’’ E
15 1,0 40 0,6-
1,2
2,5
Dừa
nước
- - 60 0-0,6 1 0,8 10 40 30
14
8
o
49’ 403’’ N
105
o
7’ 807’’ E
15 2,6 40 0,5-
1,0
3
Dừa
nước
- - 60 0-0,2 1 0,8 10 40 30
15
8
o
48’ 866’’ N
105
o
8’ 084’’ E
15 1,6 50 0,8-
1,4
2,5
Dừa
nước
- - 50 0-0,3 1 0,65 10 40 15
16
8
o
48’ 521’’ N
105
o
8’ 78’’ E
15 4,1 30 0,7-
1,2
3
Không
rừng
- - 70 0-0,2 1 1,0 10 30 15
17
8
o
48’ 470’’ N
105
o
8’ 078’’ E
15 3,9 30 0,7-
1,0
4
Không
rừng
- - 70 0-0,2 1 0,75 8 50 15
18
8
o
48’ 440’’ N
105
o
8’ 077’’ E
15 4,0 25 0,6-
1,3
4
Không
rừng
- - 75 0-0,2 1 1,1 6 40 15
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

11
Số liệu tôm tự nhiên được thu bằng cách phát biểu mẫu cho các hộ dân của 18
vuông để điền số liệu thu hoạch hằng tháng.
Biến động các yếu tố môi trường nước theo các tháng và giữa các mô hình được
phân tích áp dụng ANOVA 2 nhân tố; Pearson corelation. Biến động sản lượng
tôm tự nhiên được phân tích với ANOVA 2 nhân tố và 1 nhân tố.
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố thủy lý hóa
Giá trị trung bình trong năm của các yếu tố thủy lý hoá ở các mô hình tôm -rừng
được trình bày ở Bảng 2. Nước sông ở vùng LNT có độ trong, ôxy hòa tan, TAN,
Tannin, Phenol, Chlorophyl-a và TOM thấp hơn so với nước trong các vuông
nhưng H
2
S, Nitrite và Fe lại cao hơn so với nước các vuông. Trong số các vuông,
vuông không có rừng có pH, COD, H
2
S, TAN, PO
4
3-
và Chlorophyl-a cao hơn so
với các vuông có rừng. Trong số các vuông có rừng, vuông có dừa lá có pH,
Nitrite, TAN, và PO
4
3-
cao hơn và Chlorophyl-a thấp hơn các vuông khác. Tuy
nhiên, hầu hết các yếu tố chất lượng nước ở các mô hình tôm -rừng khác nhau
không có ý nghĩa thống kê (Bảng 2).
Bảng 2: Giá trị trung bình trong năm của các yếu tố thủy lý hóa ở các mô hình tôm - rừng
với các loại rừng
Yếu t ố

Đước 5
tuổi
Đước 10
tuổi
Đước 15
tuổi
Mắm-giá Dừa lá Không rừng Sông
Độ mặn (‰) 20,96
±6,40
20,42
±6,52
20,33
±8,09
19,15
±7,61
20,03
±8,12
19,86
±8,31
21,26
±6,73
Nhiệt độ (
o
C) 29,69
±1,84
a
30,99
±2,85
ab
29,33
±2,38
a
31,99
±3,09
b
30,31
±2,34
ab
30,46
±2,48
a
29,90
±1,96
a
PH 7,06
±0,54
7,09
±0,61
7,17
±0,53
7,13
±0,65
7,18 ±0,51 7,32
±0,49
7,20
±0,52
Độ trong (cm) 30,05
±8,40
b
25,86
±5,72
ab
26,36
±7,16
ab
23,95
±6,03
a
27,63
±8,23
ab
26,61
±5,21
ab
22,64
±9,19
a
DO (mg/L) 5,12
±0,97
ab
6,08
±1,11
c
5,89
±1,14
bc
6,29
±0,99
c
5,54
±1,32
abc
6,35
±1,69
c
4,85
±1,01
a
COD (mg/L) 10,43
±4,57
11,50
±5,15
10,96
±4,67
10,74
±3,41
10,12
±4,48
11,70
±3,66
10,37
±4,90
H
2
S (mg/L) 0,01
±0,01
0,01
±0,01
0,01
±0,01
0,01
±0,02
0,01
±0,01
0,02
±0,01
0,02
±0,02
NO
2
-
(mg/L) 0,03
±0,02
a
0,03
±0,02
ab
0,03
±0,02
ab
0,03
±0,02
ab
0,03
±0,02
ab
0,03
±0,03
ab
0,04
±0,02
b
T AN (mg/L) 0,18
±0,06
0,17
±0,06
0,19
±0,07
0,17
±0,07
0,18 ±0,08 0,18
±0,08
0,151
±0,09
PO
4
(mg/L) 0,02
±0,01
0,02
±0,01
0,03
±0,02
0,03
±0,02
0,03 ±0,02 0,03
±0,02
0,03
±0,02
Tannin (mg/L) 0,83
±0,30
ab
1,02
±0,25
c
0,89
±0,22
bc
0,84
±0,23
ab
0,86
±0,23
ab
0,86
±0,24
ab
0,72
±0,30
a
Fe
2+
(mg/L) 1,662
±0,816
1,83
±0,81
1,76
±0,94
1,71
±0,71
1,66 ±0,89 1,65
±0,70
2,29
±1,23
Chlorophyll-a
(µg/L)
11,286
±8,664
a
13,00
±8,60
ab
12,54
±9,49
ab
11,09
±5,30
a
10,93
±7,04
a
17,36
±9,57
b
8,48
±7,72
a
T OM (%) bùn
đáy
5,546
±0,942
c
4,69
±0,71
ab
4,76
±0,80
ab
4,74
±0,89
ab
5,16
±0,75
bc
5,52
±0,81
c
4,46
±0,81
a
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

12
Biến động của một số yếu tố theo các tháng trong năm cũng được thể hiện ở Hình
1-12. Các yếu tố chất thủy lý hóa thay đổi lớn theo mùa vụ. Độ mặn và pH mùa
nắng cao hơn mùa mưa (Hình 1 và 2). Ngược lại, Tannin mùa mưa cao hơn mùa
nắng (Hình 10). Đầu mùa mưa, vào khoảng tháng 5, COD (Hình 5), Nitrite (Hình
7), TAN (Hình 8), Phosphate (Hình 9) và Chlorophyl-a (Hình 12) cao nhất trong
khi DO giảm thấp nhất (Hình 4). Trong thời gian sên vét mương (tháng 4 và 10),
độ trong thấp nhất (Hình 3). H
2
S tương đối cao ở các tháng 3 và 4 (Hình 6). Fe
cao vào đầu mùa mưa (Tháng 5-6) và thời điểm sên vét mương chính (tháng 10)
(Hình 11). Nhiệt độ biến động không có xu hướng rõ ràng giữa các tháng. TOM
tương đối cao vào cuối vụ nuôi tôm thứ 2 (Tháng 8-9).
0
5
10
15
20
25
30
35
23456789101112
Tháng
Độ mặn (%o)
Đước 5 tuổi
Đước 10 t uổi
Đước 15 t uổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Không có r ừng
Sôn g

Hình 1: Biến động độ m ặn của nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
5.0
5.5
6.0
6.5
7.0
7.5
8.0
8.5
9.0
23456789101112
Tháng
pH
Đước 5 tuổi
Đước 10 tuổi
Đước 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Khôn g có rừng
Sô n g

Hình 2: Biến động pH nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
23456 789101112
Tháng
Độ trong (cm)
Đước 5 tuổi
Đước 10 tuổi
Đước 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Khôn g có rừng
Sô n g

Hình 3: Biến động độ trong nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

13
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
23456789101112
Tháng
Ox y h oà tan (mg / L)
Đư ớc 5 tuổ i
Đư ớc 10 tuổi
Đư ớc 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Kh ôn g có r ừng
Sô n g

Hình 4: Biến động Ôxy hòa tan của nước theo các thán g ở các mô hình tôm rừng
0
5
10
15
20
25
23456789101112
Tháng
COD (mg / L)
Đư ớc 5 tuổi
Đư ớc 10 tuổi
Đư ớc 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Không có rừng
Sô n g

Hình 5: Biến động COD của nước theo các thán g ở các mô hình tôm rừng
0.00
0.01
0.02
0.03
0.04
0.05
23456789101112
Tháng
H
2
S (mg / L)
Đước 5 tuổi
Đước 10 tuổi
Đước 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Kh ôn g có rừng
Sô ng

Hình 6: Biến động H
2
S của nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
0.00
0.01
0.02
0.03
0.04
0.05
0.06
0.07
0.08
23456789101112
Tháng
NO
2
-
(mg / L)
Đước 5 tuổi
Đước 1 0 tuổi
Đước 1 5 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Không có rừng
Sông

Hình 7: Biến động Nitrite của nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

14
0.00
0.05
0.10
0.15
0.20
0.25
0.30
0.35
234567 89101112
Tháng
TAN (m g / L)
Đư ớc 5 t uổi
Đư ớc 10 tuổi
Đư ớc 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Kh ông có rừng
Sô n g

Hình 8: Biến động TAN của nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
0.00
0.01
0.02
0.03
0.04
0.05
0.06
0.07
0.08
0.09
23 4 5 678 9101112
Tháng
PO
4
(mg / L)
Đước 5 tuổi
Đước 10 tuổi
Đước 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Không có rừng
Sông

Hình 9: Biến động Phosphate của nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
0.0
0.2
0.4
0.6
0.8
1.0
1.2
1.4
234567 89101112
Tháng
Tannin (mg / L)
Đư ớc 5 t uổ i
Đư ớc 10 tuổi
Đư ớc 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Kh ông có rừng
Sô n g

Hình 10: Biến động Tannin của n ước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
0.0
0.5
1.0
1.5
2.0
2.5
3.0
3.5
4.0
23456789101112
Tháng
Fe
2+
(mg / L)
Đước 5 t uổi
Đước 10 tuổi
Đước 15 tuổi
Mắm - Gi á
Dừa lá
Không có rừng
Sông

Hình 11: Biến động Fe của nước theo các tháng ở các mô hình tôm rừng
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

15
0
5
10
15
20
25
30
35
40
2345 6789101112
Tháng
Chloroph yl-a (µg / L)
Đước 5 tuổi
Đước 10 tuổi
Đước 15 tuổi
Mắm - Giá
Dừa lá
Không có rừng
Sông

Hình 12: Biến động Chlorophyl-a của nước theo các thán g ở các mô hình tôm rừng
3.2 Tôm tự nhiên trong các mô hình tôm rừng
Sản lượng tôm tự nhiên thu được ở các mô hình tôm rừng được trình bày ở Hình
13 và 14. Sản lượng tôm tự nhiên tăng dần từ tháng 2 đến tháng 5 và giảm t hấp
trong các tháng mùa mưa. Giữa các mô hình tôm rừng, năng suất tôm tự nhiên
khác nhau không ý nghĩa, ngoại trừ mô hình tôm - dừa lá có năng suất trung bình
385.3 kg / ha mặt nước/ năm, cao nhất và khác biệt có ý nghĩa so với các mô hình
khác (P<0,05). Các loài tôm tự nhiên thu được bao gồm chủ yếu là tôm thẻ
(Penaeus merguiensis, P. indicus), tôm đất (Metapenaeus ensis) và tôm bạc
(Metapenaeus lysianassa).
0.00
20 .00
40 .00
60 .00
80 .00
100 .00
120 .00
140 .00
123456789101112
Thán g
Năng suấ t tôm (kg/ha nước /tháng)
Đước 5 tuổi
Đước 10 t uổi
Đước 15 t uổi
Mắm- Giá
Dừa lá
Không có rừng

Hình 13: Biến động sản lượng tôm tự nhiên thu đư ợc ở các mô hình tôm - rừng
156. 03
165.38
173.45
176. 55
385. 30
176.50
0.00
100.00
200.00
300.00
400.00
500.00
600.00
Đướ
c 5 tu

i
Đướ
c 10 tu

i
Đướ
c 15 tu

iM

m-Giá D

a lá Không có
Năng suất tôm (kg/ha nước /năm)

Hình 14: Sản lượng tôm tự nhiên thu được trong năm từ các mô hình tôm-rừng
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

16
3.3 Thảo luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các yếu tố thuỷ lý hóa ở các vuông và sông
khác nhau không ý nghĩa (Bảng 2) và chất lượng nước ở đầu vuông và cuối vuông
khác nhau cũng không ý nghĩa thống kê. Tuy vậy, các yếu tố này biến động lớn
theo mùa vụ (Hình 1-12). So với các tiêu chuẩn chất lượng nước cho nuôi tôm
(Bảng 3), chất lượng nước trong các vuông tôm -rừng có cấu trúc rừng khác nhau
ở Cà Mau hầu hết vẫn ở mức cho phép cho sự phát triển của tôm.
Lượng lá rụng và phân hủy ở các vuông tôm - rừng có lẽ là lý do chính làm cho
TAN, Tannin, Phenol, Chlorophyl-a, và TOM ở các vuông tương đối cao hơn so
với sông nước chảy. Tuy nhiên, nước sông có H
2
S, Nitrite và Fe cao hơn ở nước
vuông. Điều này có lẽ do việc sên vét bùn từ các vuông đổ ra sông, do giao thông
khuấy dộng, và do chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư (Johnston et al., 2002).
Nước sông cũng có độ đục cao hơn trong vuông do lượng chất phù sa rắn của nước
sông cao (Johnston et al., 2002), trong khi vào ao phù sa được lắng tụ. Mặc dù các
vuông 16, 17, 18 không còn rừng, tuy nhiên, do rừng trồng mới được khai thác 2
năm t rước (lúc 15 tuổi) nên vẫn còn nhiều gốc, cành đang phân hủy. Điều này dẫn
đến pH, COD, H
2
S, TAN, PO43-, và Chlorophyl-a ở những vuông này tương đối
cao hơn các mô hình khác.
Bảng 3: Tiêu chuẩn chất l ượng nước cho nuôi tôm
No. Yếu tố Phạm vi
cho phép
Phạm vi thích
hợp nhất
Tham khảo
1 Salinity (‰) 5-35 10-30
15-30
Boy,1990
Chanratchakool et al., 1995
2 PH 7-9 Boy và Fast, 1992
3 DO (mg/L) >3,5-bão
hòa

5-6
Boy và Fast (1992)
Chanratchakool et al., 1995
5 COD (mg/L) 10-200 80-100 Chattopadhyay, 1998
6 H
2
S (mg/L) Không phát
hiện
<0,03
Boy và Fast, 1992

Chanratchakool et al., 1995
7 N-NO2- (mg/L) <4-5 Boy và Fast, 1992
8 TAN (mg/L) <0,4 Boy và Fast, 1992
Chanratchakool et al., 1995
9
Chlorophyll-a (µg/L)
50-200 Chattopadhyay, 1998
Năm 2003, lượng mưa ở Cà Mau trung bình 53,48mm (0-206mm) mỗi tháng mùa
khô và 370mm (210-522mm) mỗi tháng mùa mưa (Sở Tài Nguyên - Môi Trường
Cà Mau, 2004). Lượng mưa này đã chi phối lớn đến sự biến động các yếu tố thủy
lý hóa. Độ mặn và nhiệt độ cao vào mùa khô và thấp vào mùa khô trong nghiên
cứu này cũng phù hợp với kết quả của Jonhston et a l. (2002) và An (2002). Độ
mặn giảm nhanh vào đầu mùa mưa cần được chú ý vì có thể ảnh hưởng lớn đến
tôm. Do các vuông tôm rừng nằm trong khu vực đất bị phèn tiềm tàng (Hong,
1999), đất phèn bờ vuông rất dễ bị ôxy hóa và đổ xu ống mương khi có mưa (Hong,
1999) và đây cũng là lý do làm pH nước giảm t hấp vào đầu mùa mưa. Sên vét
mương phổ biến vào tháng 9 cũng là lý do làm pH nước thấp trong các tháng này.
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

17
Johnston et al. (2002) đề nghị không nên đào mương sâu, trong khi đó, Buu và
Phuong (1999) đề nghị trồng cây trên bờ để hạn chế ảnh hưởng của phèn.
Hầu hết các vuông tôm-rừng có trảng không ngập nước, vì thế, mùa nắng, lá rụng
không ảnh hưởng lớn đối với chất lượng nước. Tuy nhiên, mùa mưa, lá phân hủy
nhanh và nước thối đổ từ trảng xuống mương, làm cho COD, Nitrite, TAN,
Phosphate và Tannin tăng cao nhưng hàm lượng Ôxy hòa tan giảm t h ấp. Tuy
nhiên, hàm lượng Ôxy hòa tan trong nghiên cứu này tương đương với kết quả
nghiên cứu của Viet et al. (2002) (4-8.1mg/L) và cao hơn kết quả của Johnston et
al. (2002) (trung bình 3,7mg/L).
Hàm lượng Chlorophyl-a trong nghiên cứu này tương đương với khảo sát của An
(2003) nhưng cao hơn so với Johnston et al. (2002). Tannin tiết ra từ lá cây rừng
có nguy cơ gây độc cho tôm (Fitzgerald JR, 2000), tuy nhiên, nồng độ gây độc cho
tôm đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập.
Lượng lá hiện diện ở đáy mương nhiều vào các tháng 3-4 (Trần Ngọc Hải et al.,
2004) có lẽ là nguyên nhân làm cho H
2
S trong vuông cao. Hơn nữa, trong giai đoạn
này, đáy mương thường bị kh uấy động do người dân tiến hành sên ngầm. Điều này
cần nên tránh vì hàm lượng H
2
S khá cao so với khoảng cho phép cho tôm.
Về tôm tự nhiên trong các vuông, Johnston et al. (2000) cho rằng, mùa cao điểm
tôm giống vào vuông là tháng 10-11 và tháng 4-5 với mật độ dưới 1 con tôm
giống/m3. Tương tự như kết quả nghiên cứu này, nhiều báo cáo cũng cho rằng,
tôm tự nhiên có năng suất cao trong mùa khô với tôm bạc (Metapenaeus
lysianassa) chiếm ưu thế và năng suất thấp vào mùa mưa với tôm đất
(Metapenaeus ensis) chiếm ưu thế (Johnston et al., 2000). Điều quan trọng của
nghiên cứu này là, giữa các mô hình tôm rừng và mô hình không có rừng có năng
suất tôm khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05). Điều này cho thấy rằng, việc thu
hoạch rừng toàn bộ cũng không nâng cao đáng kể năng suất tôm. Đặc biệt, mô
hình tôm - dừa lá có năng suất cao nhất so với các mô hình khác. Đây cũng có lẽ là
do các vuông này được đào và sên vét nhiều bằng máy, nước sâu hơn, và rừng
cũng không dày đặc như các vuông rừng đước hay mắm g iá. Hơn nữa, tôm có thể
lên trảng tìm mồi do trảng được ngập nước. Điều này cũng cho thấy rằng, dừa
nước cũng rất tốt cho tôm. Simeona và Santiago (2000) cũng báo cáo rằng, mô
hình nuôi tôm cá kết hợp với dừa lá có kết quả rất tốt ở Philippines.
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1 Kết luận
Hầu hết các yếu tố thủy lý hóa sinh sai khác nhau không có ý nghĩa thống kê giữa
các mô hình tôm - rừng, nhưng biến động rất lớn theo mùa. Chất lượng nước vẫn
đảm bảo cho nghề nuôi tôm sinh thái. Tuy nhiên, nước mương xấu hơn vào mùa
mưa. Điều này cần có giải pháp thỏa đáng. Năng suất tôm tự nhiên ở vuông tôm
không có rừng khác biệt không ý nghĩa thống kê so với vuông có rừng. Vuông có
dừa nước vẫn cho năng suất tốt so với rừng đước hay mắm-giá. Điều này cho biết
có những yếu tố khác tác động lớn đối với tôm hơn là lá rừng và chất lượng nước.
Từ các kết luận trên cho thấy triển vọng tốt để phát triển nuôi tôm sinh thái nếu mô
hình được quản lý tốt.
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 8-19 Trường Đại học Cần T hơ

18
4.2 Đề nghị
- Cần phát triển mô hình nuôi tôm sinh thái để đáp ứng nhu cầu tôm chất lượng
cao hiện nay. Tuy nhiên, cần nghiên cứu và xem xét thêm về cách thiết kế, tỷ lệ
rừng/mương, mật độ cây rừng, mật độ tôm cá thả nuôi.
- Tăng cường tập huấn người dân áp dụng mô hình, cũng như tăng cường các
hoạt động tiếp thị và xuất khẩu sản phẩm sinh thái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
An, N.T. (2002). ‘Mekong Delta water quality and sustainable aquaculture development’. In
Populus J., Martin J-L, An, N.T. (Eds), Shrimp farming sustainability in the Mekong
Delta: Environmental and technical approaches. Proceeding of the workshop held in
Travinh (Vietnam), 3-8 March, 2002: Abstract, p. 2
APHA, AWWA and WPCF (Americant Public Heal Association, American Water Works
Association and Water pollution Control Federation) (1989). Standard methods for the
examination of water and wastewater. 7th ed. APHA, Washington, D.C.
Be, N. V. (2000). An eveluation of coast al forest and fishery resources management strat egies
in Camau and Bentre provinces in the mekong Delta, Vietnam. PhD Thesis, University of
Philippines Los Banos.
Binh, C.T., M. J. Phillips and H. Demaine (1997). ‘Integrated shrimp-mangrove farming
systems in the Mekong Delta of Vietnam’. Aquaculture Research, 28, 599-610.
Boy, C. E. (1990). Water qualit y in ponds for aquaculture. Auburn University.
Boy, C. E and A. W. Fast (1992). ‘Pond monitoring and management’. In: Fast, A. W.,
Lester, L.J. (Eds.), Marine Shrimp Culture: Principle and Practices. Elsevier, Amsterdam
Buu, T . C and D. X. Phuong (2000). ‘Selection of suitable mangrove species t o rehabilitate
the forests on high beds and embankment s of shrimp ponds in Ca Mau’. In: Hong, P. N.,
N. H. Tri, and Q. H. Dao (Ed.), Management and Sust ainable Use of Nat ural Resources
and Environment in Coastal Wetlands, Proceedings of the Scientific Workshop in Hanoi,
1-3 Nov 1999. MERD/CRES and ACTMANG, Hanoi, 124-129.
Chanratchakool, P., J. F. Turnbull, S. Funge-Smith and C. Limsuwan (1995). Health
management in shrimp ponds (2nd ed). Aquatic Animal Health Research Institute,
Bangkok.
Chattopadhyay, G.N. (1998). Chemical analysis of fish pond soil and water. Daya Publishing
House, Delhi.
Christ ensen, S.M., 2003. Coastal Buffer and Conservat ion Zone Management in the Lower
Mekong Delta, Vietnam: Farming and Natural resources Economics. PhD Thesis.
Department of Economics and Nat ural Resources. T he Royal Veterinary and Gricult ure
University, Copehagen, Denmark.
Department of Fisheries - Ca Mau province (2003). Annual report on the results of activities
in 2003 and plans for 2004. 18p.
Fitzgerald JR, W. J. (2000). ‘Integrated mangrove forest and aquacult ure systems in
Indonesia’. In: Primavera, J.H., Garcia, L.Ma.B., Castranos, M.T., Surtida, M.B. (Eds.),
Mangrove –Friendly Aquaculture. SEAFDEC, 21-34.
Hong, P. N. (1999). Mangrove of Vietnam. Agricultural Publishing House, Hanoi.
Johnston, D., M. Lourey, D. Van Tien, T. T. Luu and T. T. Xuan (2002). ‘Water quality and
plankt on densities in mixed shrimp-mangrove forestry farming systems in Viet nam’.
Aquaculture Research, 33, 785-798.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét