Khoá luận tốt nghiệp
1.1 Đ y m nh các ho t đ ng Marketing và nghiên c u th tr ngẩ ạ ạ ộ ứ ị ườ 66
1.2. Nâng cao kh năng c nh tranh c a xu t kh u rau quả ạ ủ ấ ẩ ả 71
1.3. Gi i pháp v v n và tài chínhả ề ố 74
1.4. Chú tr ng đào t o đ i ng cán bọ ạ ộ ũ ộ 75
1.5. Gi i pháp v công ngh và thông tinả ề ệ 76
2. NH NG GI I PHÁP V MÔỮ Ả Ĩ 78
2.1. Chính sách đ t đaiấ 78
2.2. Chính sách phát tri n th tr ng xu t kh u rau quể ị ườ ấ ẩ ả 80
2.3. Chính sách đ u tầ ư 81
2.4. Chính sách v n, tín d ngố ụ 82
2.5. Chính sách b o hi m kinh doanh xu t kh u rau quả ể ấ ẩ ả 83
2.6. Chính sách h tr , khuy n khích xu t kh u rau quỗ ợ ế ấ ẩ ả 83
K T LU NẾ Ậ 89
TÀI LI U THAM KH O:Ệ Ả 1
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 15 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành công rất
đáng kể. Từ một nước nông nghiệp phải nhập khẩu lớn lương thực triền miên,
giờ đây chúng ta đã trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác
có vị thế trên thế giới. Từ khi Nghị Quyết Đại Hội Đảng lần thứ VIII hướng
dẫn thực hiện đa dạng hoá cây trồng, hướng về xuất khẩu, ngành rau quả Việt
Nam đã có những bước phát triển, và thích ứng kịp trước những biến động đột
ngột của thị trường nước ngoài, trước hết là thị trường Mỹ.
Quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ, đặc biệt là hiệp định
thương mại song phương được ký kết và có hiệu lực tháng 12/2001 là động
lực mở cánh cửa thị trường Mỹ, một thị trường hấp dẫn và lớn nhất thế giới,
để cho các doanh nghiệp Việt Nam vào cuộc và cạnh tranh một cách bình
đẳng với các nước khác. Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ hội
lớn để đẩy mạnh xuất khẩu và đa phương hoá thị trường.
Trong bối cảnh đó, em đã chọn đề tài “Giải pháp mở rộng xuất khẩu
rau quả của Việt nam vào thị trường Mỹ” cho khoá luận tốt nghiệp của
mình. Với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Trung Vãn cùng với
sự nỗ lực của bản thân, em mong muốn được nghiên cứu sâu hơn về các giải
pháp nhằm mở rộng xuất khẩu rau quả Việt Nam.
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát thị trường rau quả Mỹ
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu của rau quả Việt Nam vào thị trường
Mỹ trong những năm gần đây
Chương 3: Định hướng và giải pháp mở rộng xuất khẩu của rau quả
Việt Nam vào thị trường Mỹ.
Tuy đã có nhiều cố gắng và nỗ lực, nhưng do những hạn chế về thời
gian, kinh nghiệm và khả năng của người viết, nên đề tài này khó tránh khỏi
những sai sót. Vì vậy em mong được sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô trong
Trường và ý kiến của đông đảo độc giả.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Lan Phương
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
1
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG RAU QUẢ MỸ
I. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ
1. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG RAU QUẢ MỸ
Hợp chủng quốc Hoa kỳ là một trong những nước có diện tích lớn nhất
thế giới (9,4 triệu km
2
), dân số đông với thành phần số rất phức tạp. Đây là
một quốc gia trẻ với nhiều người nhập cư từ khắp các châu lục trên thế giới,
thực sự là một thị trường khổng lồ và rất lý tưởng đối với những nước muốn
đẩy mạnh xuất khẩu. Thị trường rau quả Hoa Kỳ là một thị trường với mức
tiêu dùng cao, nhu cầu rau và trái cây các loại và luôn có xu hướng tăng. Do
lượng dân nhập cư ngày càng đông và mang đến những sở thích thị hiếu tiêu
dùng khác nhau, lượng giao dịch rau quả trên thị trường ngày càng đa dạng
với đủ các chủng loại quả và rau đến từ khắp các miền khí hậu của mọi khu
vực trên thế giới. Không chỉ loại quả có múi như cam, bưởi, quýt trên thị
trường Mỹ mà nhiều chủng loại khác, đặc biệt là quả nhiệt đới và chuối cũng
tham gia không kém phần sôi động trên thị trường rau quả khổng lồ này. Mỹ
là một trong những nước vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu trái cây và rau lớn
nhất thế giới. Phần lớn rau quả được phân phối qua hệ thống kênh phân phối
là các siêu thị bán lẻ và các cửa hàng thực phẩm, cung cấp hàng hoá cho
người tiêu dùng cuối cùng khắp nước Mỹ. Vai trò của các nhà trung gian phân
phối như người chuyên nhập khẩu, người bán buôn ngày càng giảm, còn vai
trò của các nhà sản xuất, những nhà bán lẻ ngày càng tăng. Họ đặt trực tiếp
các đơn đặt hàng từ những nhà xuất khẩu nước ngoài vừa giảm được phí trung
gian, vừa đảm bảo chất lượng hàng hoá. Trong những năm gần đây, xu hướng
sát nhập các tập đoàn phân phối thực phẩm của Mỹ diễn ra mạnh mẽ. Quá
trình này dẫn đến một số tập đoàn lớn thao túng và chi phối thị trường. Các
doanh nghiệp nước ngoài muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ trở nên khó
khăn hơn và phải thông qua các tập đoàn trên. Một đặc trưng nữa rất riêng của
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
2
Khoá luận tốt nghiệp
thị trường Mỹ, đó là một phần lớn khối lượng rau quả tiêu thị trên thị trường
là những rau quả nhập khẩu. Nhưng dù là thị trường nhập khẩu rau quả lớn
của thế giới nhưng đây lại là thị trường khắt khe, không phải rau quả nào
cũng “chen chân” được vào thị trường này mà đó phải là những loại đáp ứng
được các tiêu chuẩn vệ sinh kiểm dịch thực phẩm phức tạp của Hoa Kỳ. Vấn
đề nhãn hiệu cũng rất được chú ý, hầu hết các rau quả tham gia trên thị trường
đều có nhãn hiệu của các công ty hay tư nhân để đảm bảo chất lượng tiêu
dùng. Hiện nay, xu hướng của thị trường Hoa Kỳ là tăng cường các biện pháp
bảo hộ và tăng lượng giao dịch rau quả tươi trong tổng lượng giao dịch các
sản phẩm rau quả.
2. NÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG
MỸ
Thị trường Mỹ được coi là thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới, xã hội
Mỹ được coi là xã hội tiêu thụ. Người ta ước tính rằng hàng năm nước Mỹ
tiêu gấp nhiều lần các nước khác. Ngày nay nhận thức được về vai trò của rau
và quả đối với sức khoẻ được nâng lên, nên rất nhiều người tiêu dùng Mỹ
tăng cầu đối với mặt hàng này. Nhìn chung mức tiêu thụ bình quân đầu người
về rau quả của Mỹ luôn cao hơn so với mức trung bình của thế giới. Mức tiêu
thụ bình quân đầu người về rau trên thế giới là 90 kg/năm, Việt Nam là 60kg/
năm. Trong khi đó mức bình quân của Mỹ rất cao, lên tới 187 kg một người/
năm, tức là gấp đôi mức bình quân của thế giới. Còn mức tiêu thụ trái cây
bình quân đầu người của Mỹ cũng đạt mức gần 130kg/năm. Cầu lớn kéo theo
cung cao, lượng rau quả tham gia trên thị trường này hết sức sôi động, đa
dạng các chủng loại, trong đó một phần lớn là rau quả được nhập khẩu từ các
nước khác. Nhưng nguồn cung trong nước vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu
khổng lồ đó, nên hàng năm Mỹ phải nhập khẩu một khối lượng đáng kể để
đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng đa dạng của người dân. Rau quả tươi chiếm tỷ
trọng hơn một nửa trong cơ cấu tiêu dùng sản phẩm rau quả nói chung. Các
loại quả tươi phổ biến trên thị trường nước này là chuối, táo, cam, xoài, lê,
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
3
Khoá luận tốt nghiệp
quýt, đu đủ, dâu tây… Nước quả cũng là loại sản phẩm chế biến được yêu
thích và tiêu dùng nhiều thứ hai sau hoa quả tươi. Đặc biệt người Mỹ thích sử
dụng các loại nước ép thay cho nước uống và thường xuyên trong bữa ăn
hàng ngày, chiếm tỷ trọng hơn 1/3 cơ cấu tiêu dùng hoa quả. Ngoài ra còn có
các dạng chế biến khác như: đóng hộp, đông lạnh, sấy khô…
2.1. Mức tiêu thụ rau
Mức tiêu dùng bình quân mỗi người năm 2001 là 200,4 kg rau (kể cả
khoai tây, nấm đậu đỗ, khoai lang), giảm 2% so với năm 2000, trong đó lượng
rau tươi được tiêu thụ không thay đổi, vẫn giữ ở mức 78kg; nhưng cầu đối với
rau hộp và rau bảo quản lạnh lại giảm, đạt 52 kg/người so với 55,2kg của năm
2000. Năm 2002, tổng lượng rau được tiêu thụ giảm nhẹ so với năm trước,
chủ yếu là do rau tươi giảm, còn rau lạnh và đóng hộp tăng với số lượng nhỏ.
Khoai tây là loại rau được tiêu dùng nhiều nhất ở Mỹ, khối lượng tiêu thụ
hàng năm luôn ở mức cao, gấp nhiều lần các loại rau khác. Mức tiêu thụ bình
quân là 62,3 kg mỗi người từ năm 1998 đến nay. Dấu hiệu giảm bắt đầu từ
năm 2001, nguyên nhân do ảnh hưởng của giá cao vì nguồn cung trên thị
trường giảm.
Bảng 1: Tiêu thụ rau bình quân đầu người ở Mỹ ( Đơn vị: kg)
Năm 1998 1999 2000 2001 2002
Cải xanh 3.3 3.9 3.8 3.5 3.2
Cải bắp 4.5 4.0 4.7 4.7 4.4
Cà rốt 7.7 6.7 6.5 6.3 5.7
Cần tây 3.0 3.0 2.9 3.0 3.0
Dưa chuột 4.8 5.0 5.1 4.6 5.2
Rau diếp 12.8 14.3 14.5 14.4 13.9
Hành 8.8 9.3 9.1 8.6 9.0
Cà chua 41.5 40.4 39.8 37.6 39.6
Khoai tây 62.7 62.0 63.0 62.6 61.2
Nấm 1.8 1.9 1.9 1.8 1.9
Rau khác 49.2 51.1 54.0 53.3 52.2
TỔNG 200.0 201.5 205.3 200.4 199.4
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
4
Khoá luận tốt nghiệp
Nguồn :USDA- 2002/ Vegetables and melon yearbook 2002.
Qua bảng số liệu trên cho thấy rõ tình hình tiêu thụ rau ở Mỹ trong
những năm qua vẫn được duy trì khá ổn định và ở mức cao (trên
200kg/người/năm), trong đó cao nhất là năm 2000 với mức 205,3kg/người.
2.2. Mức tiêu thụ quả cụ thể
Mức tiêu thụ bình quân đầu người năm 2000 ở Mỹ là 139 kg, tăng 3%
so với năm 1999 và các năm về trước, đạt mức cao thứ hai trong lịch sử từ
trước đến nay ( mức cao nhất là năm 1998). Trong đó, tiêu thụ quả có múi
tăng 8%, bằng 59kg/người, chủ yếu là do cung trong nước tăng vì đây là một
năm được mùa của Mỹ. Tuy vậy tiêu dùng các loại quả khác lại giảm 1% so
với năm trước, ở mức 80kg/người. Trong 3% tăng so với năm trước đó, chủ
yếu là do lượng tiêu dùng quả tươi tăng, đặc biệt là quả có múi tươi. Cam
tươi, quýt tươi, bưởi lai quýt được tiêu thụ nhanh với khối lượng lớn, nhưng
chanh và bưởi lại giảm nhẹ so với năm trước. Việc tiêu dùng cam tươi tăng,
loại quả tươi chiếm tỷ trọng 1/2 trong toàn bộ tiêu dùng quả có múi tươi, tác
động mạnh đến mức tăng tiêu dùng chủng loại quả này nói chung. Tuy nhiên
mức tiêu thụ các loại quả khác ngoài quả có múi lại giảm, chủ yếu vẫn là
giảm tiêu dùng chuối tươi, táo tươi, nho, lê, mận. Trong khi đó các loại quả
nhiệt đới khác được nhập khẩu lại tăng tiêu dùng, đạt mức tiêu dùng kỷ lục.
Quả đóng hộp năm 2000 đạt bình quân đầu người là 7kg, chủ yếu là tăng
lượng cung nội địa, cùng với xuất khẩu giảm kéo theo đầu vào để sản xuất
quả đóng hộp tăng. Mức tăng lượng đào đóng hộp tiêu thụ bình quân mỗi
người trong năm, và các loại quả đóng hộp như: táo, đào ngọt, mận không
thay đổi. Sản phẩm quả đông lạnh cũng tăng trong năm này, bình quân mỗi
người là 1,5kg. Bên cạnh đó tiêu thụ quả sấy khô và nước quả lại giảm, bình
quân mỗi người dùng hơn 1 kg sản phẩm quả khô và 4 kg sản phẩm nước quả.
Nguyên nhân chủ yếu làm tiêu dùng nước quả giảm là do nguyên liệu làm
nước ép ít, thất thu sản lượng cộng với nhập khẩu ít.
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
5
Khoá luận tốt nghiệp
Năm 2002, người Mỹ tiêu dùng nhiều hoa quả tươi, sấy khô, đông lạnh
và nước ép nhiều hơn so với năm 2001, trung bình mỗi người là 129 kg, trong
đó có 45 kg hoa quả tươi, 84 kg hoa quả chế biến dưới các dạng khác nhau.
Tiêu thụ các loại quả không có múi tươi và chế biến đều tăng so với năm
2001, nhưng tiêu thụ các quả có múi lại giảm. Mùa cam cho mức sản lượng
thấp hơn ở Florida đã làm giảm đáng kể mức cung cấp các loại cam tươi cho
thị trường trong nước cũng như nguyên liệu làm nước trái cây.
Bảng 2- Tiêu thụ bình quân đầu người một số loại rau quả chính ở Mỹ
(Đơn vị: kg)
Năm 1998 1999 2000 2001
Táo 45.9 48.4 48.3 47.0
Nho 53.1 45.4 46.9 51.0
Chuối tươi 27.6 28.6 31.4 29.2
Cam 85.8 97.5 86.9 91.5
Bởi 16.5 15.2 15.6 15.4
Đào 10.2 8.9 9.7 10.0
Lê 7.0 6.7 6.9 6.2
Dứa 12.4 11.2 13.3 12.9
Xoài tươi 1.8 1.6 2.0 2.2
Nguồn: USDA-2002/Fruit and Tree Nuts yearbook
Qua bảng trên ta thấy cam, chuối, táo, nho, là những loại quả được tiêu
dùng phổ biến ở Mỹ. Chuối tươi vẫn là trái cây được ưa thích nhất với con số
bình quân đầu người trong những năm qua là 13kg, trong đó mức cao nhất là
14,3kg năm 1999. Hiện nay, lượng chuối tiêu thụ có giảm nhẹ, nhưng đây vẫn
là loại quả tươi xếp thứ nhất trong sản lượng tiêu dùng hàng năm ở Mỹ. Tiếp
theo là táo tươi với khối lượng trung bình là hơn 8kg/người. Cam tươi đạt
mức tiêu thụ lớn nhất vào những năm 50-60 (bình quân 8,5 kg mỗi người, bởi
lẽ lượng xuất khẩu ít, lại được mùa liên tiếp nên cung cấp trong nước dồi dào;
những năm sau đó mức tiêu thụ giảm dần, đạt thấp nhất là 5,4kg. Tuy vậy gần
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
6
Khoá luận tốt nghiệp
đây có xu hướng tiêu dùng dưới dạng tươi tăng trở lại do giống cam được cải
thiện và giá lại rẻ hơn. Nước cam luôn là loại nước quả được ưa thích nhất ở
Mỹ, dẫn đầu trong các loại nước hoa quả có mặt trên thị trường, người tiêu
dùng Mỹ thích sử dụng nước cam thay cho các loại nước uống hàng ngày và
thay cho cam tươi. Nhận thức được vai trò của cam đối với sức khoẻ, cung
cấp nhiều Vitamin C và các loai axit tốt, vì vậy tiêu dùng nước cam vẫn giữ
được mức ổn định trong suốt hàng chục năm.
Xoài, đu đủ là những loại quả nhiệt đới chủ yếu được nhập khẩu để
đảm bảo cho cầu trong nước, tuy bình quân tiêu dùng loại quả này còn chưa
cao nhưng có xu hướng tăng tiêu dùng trong những năm gần đây và sắp tới.
Xoài nhập khẩu chiếm tỷ trọng 75% trong cơ cấu tiêu dùng, so với mức 3,4%
thời kỳ những năm 80. Tốc độ tăng tiêu dùng của đu đủ nhập khẩu ở Mỹ là
10%/năm.
3. TÂM LÝ, THỊ HIẾU, TẬP QUÁN TIÊU DÙNG
Quan điểm tiêu dùng của người Mỹ: Nếu người Đức coi thường hành vi
tiêu dùng hoang phí, người Nhật xem thái độ tiết kiệm là hành vi quý tộc thì
người Mỹ ngược lại: văn hoá người Mỹ tôn sùng tiêu dùng đến mức cho rằng:
giá trị của một cá nhân trong xã hội không xác định bằng việc cá nhân ấy đã
làm gì và tiết kiệm được bao nhiêu mà là xác định bởi tiêu chuẩn cá nhân ấy
tiêu dùng như thế nào. Vì vậy người ta vẫn thường nói đó là thế giới của tiêu
dùng. Chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, văn hoá, lối sống, mức sống, thị
hiếu tiêu dùng nói chung của người Mỹ rất đa dạng. Ngay cả khi bán hàng
cho mỗi bang, mỗi vùng của Mỹ, người ta có thể phải sử dụng những chiến
lược Marketing khác nhau. Yêu cầu của người tiêu dùng đối với phẩm cấp
hàng hoá cũng có nhiều loại: từ phẩm cấp thấp, phẩm cấp trung bình đến
phẩm cấp cao. Đặc biệt người Mỹ khác người Châu Âu ở điểm không quá cầu
kỳ, mà chuộng những hàng hoá đơn giản và tiện dụng, những sản phẩm mới
lạ, độc đáo, kích thích sự tò mò. Riêng đối với thực phẩm, tâm lý tiêu dùng
của người Mỹ rất thận trọng, họ sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm đạt
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
7
Khoá luận tốt nghiệp
yêu cầu an toàn thực phẩm, đặc biệt đối với sản phẩm thuộc loại cao cấp. Rau
và quả là những mặt hàng rất nhạy cảm với người tiêu dùng, vì vậy những yêu
cầu về vệ sinh kiểm dịch thực phẩm của nước này rất khắt khe. Các sản phẩm
rau quả được coi là đủ tiêu chuẩn an toàn thực phẩm sẽ phải hội tụ những tiêu
chuẩn cơ bản sau đây:
Trước hết, đó phải là rau quả sạch, tức là không còn tồn dư các chất độc
hại có nguồn gốc từ thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, thuốc bảo quản sản
phẩm. Hoặc khi có một số hoá chất độc được sử dụng thì phải tuân thủ
nghiêm ngặt về thời gian, liều lượng, cách thức sử dụng sao cho lượng tồn dư
chất độc hại trong sản phẩm không quá giới hạn cho phép. Sản phẩm rau sạch
còn là sản phẩm không tồn tại quá mức cho phép về các loại vi khuẩn gây
bệnh cho con người.
Thứ hai, sản phẩm rau quả phải được bao gói, và bao bì đó phải thoả
mãn được các yêu cầu cơ bản là: bảo quản sản phẩm bên trong, đẹp về hình
thức; tiện lợi cho người sử dụng; trên bao bì phải ghi rõ các nội dung, địa chỉ
sản xuất, thời gian sản xuất, thời hạn sử dụng, đặc điểm sản phẩm, cách sử
dụng…
Thứ ba, là rau quả bán trên thị trường phải được cơ quan kiểm dịch có
uy tín về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Mức sống càng tăng lên do kinh tế phát triển và thu nhập cao, xu hướng
tiêu dùng cũng ít nhiều thay đổi. Ngày nay, người tiêu dùng có xu hướng gia
tăng tiêu thụ các sản phẩm rau quả tươi hơn rau quả đã qua chế biến dưới
dạng đóng hộp, sấy khô, muối. Thực chất, các loại quả và rau giàu giá trị dinh
dưỡng hơn khi được sử dụng ở dạng tươi với điều kiện vệ sinh an toàn. Trừ
cây dứa và một số cây đặc biệt khác như lạc liên (vốn dĩ trồng để chế biến),
hầu hết các loại quả và rau phải ăn tươi mới đúng giá trị của nó. Vì vậy, thị
trường các loại rau quả chế biến đang ở trong giai đoạn bão hoà ở các nước
phát triển, và rau quả tươi có đơn giá cao hơn trên thị trường quốc tế thậm chí
Đặng Thị Lan Phương - Pháp 1 - K38
8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét