4
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Lý luận chung về thò trường chứng khoán
1.1.1 Tổng quan về thò trường chứng khoán
1.1.1.1 Sự cần thiết và tính tất yếu của thò trường chứng khoán
Một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế là việc tạo lập
các công cụ tài chính, để có được hệ thống thò trường tài chính (TTTC) năng
động và đạt được thò trường vốn hiệu quả. Một TTTC năng động sẽ là “nguồn
tài nguyên” bất tận để tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế. Ngoài ra, sự tồn tại
thò trường vốn hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng vốn cho đầu tư phát triển kinh tế,
đặc biệt là các nguồn vốn trung và dài hạn. Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế là
nhu cầu không giới hạn cho các quốc gia nên sự ra đời thò trường chứng khoán
(TTCK)-kênh huy động vốn dài hạn là tất yếu. TTCK là một đònh chế tài chính
trong thò trường vốn; hệ thống TTTC và là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại.
Bước vào thế kỷ XXI, thò trường vốn toàn cầu đang thay thế hệ thống
ngân hàng thương mại (NHTM) truyền thống để trở thành kênh cung cấp nguồn
tài chính hiệu quả và quan trọng nhất cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
quốc gia đối với các nước có nền kinh tế phát triển, như tại Anh-Mỹ tổng giá trò
tài sản trên thò trường vốn đã lớn hơn nhiều so với hệ thống ngân hàng. Hiện
tượng chứng khoán hóa nguồn tài chính không ngừng gia tăng, với thực tế một số
nghiệp vụ năng động, hiệu quả nhất của các NHTM đều liên quan đến việc
chuyển đổi các sản phẩm tín dụng thông thường thành những loại chứng khoán
có tính thanh khoản nên đã thúc đẩy hơn nữa sự phát triển thò trường vốn, TTCK.
5
Thực vậy, TTCK cung cấp các nguồn vốn dài hạn cho chính phủ và
doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế mở rộng sản
xuất kinh doanh. Ngày nay, ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển theo cơ
chế thò trường đều có một TTCK hoạt động hữu hiệu. Lòch sử đã chứng minh sự
phát triển TTCK tại các nước gắn bó rất chặt chẽ với sự phát triển nền kinh tế
các nước như TTCK Anh quốc (1773), TTCK Đức (1778), TTCK Mỹ (1792),
TTCK Thụy Só (1876), TTCK Nhật (1878), TTCK Pháp (1801). Các TTCK của
các quốc gia mới nổi trong khu vực cũng đóng góp tích cực vào sự phồn vinh của
nền kinh tế đang phát triển như: TTCK Hong Kong (1946), TTCK Trung Quốc
(1949), TTCK Indonesia (1952), TTCK Nam Triều Tiên (1956), TTCK Đài Loan
và Thái Lan (1962), TTCK Malaysia và Singapore (1960).
TTCK có ý nghóa quan trọng như một van điều tiết hữu hiệu nhất các
nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi sử dụng kém hiệu quả đến nơi sử
dụng có hiệu quả cao hơn. Ngoài ra nó còn là nơi diễn ra quá trình chuyển
nhượng quyền sở hữu về vốn và tài sản vô cùng thuận lợi, là môi trường cho
việc đa dạng hóa các chủ thể sở hữu về vốn tại các doanh nghiệp. Với sự phát
hình thành TTCK sẽ giúp các nhà đầu tư (NĐT) có thể đa dạng hóa đầu tư, chia
sẽ rủi ro với cơ chế tinh vi hơn thông qua các công cụ tài chính, như: trái phiếu,
cổ phiếu, chứng chỉ quỹ,… và các loại chứng khoán phái sinh: quyền chọn, hợp
đồng tương lai,… nhằm mang lại cho công chúng các cơ hội đầu tư mới để gia
tăng lợi tức đầu tư và kiểm soát rủi ro với mức độ có thể chấp nhận.
1.1.1.2 Khái niệm thò trường chứng khoán
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về TTCK
Quan điểm thứ nhất cho rằng TTCK và thò trường vốn là một, chỉ là tên
gọi khác nhau của cùng một khái niệm. Nếu xét về nội dung, thò trường vốn biểu
6
hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán chứng khoán còn
TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dòch vốn cụ thể. Do đó, các thò
trường này không thể phân biệt, tách rời mà thống nhất và cùng phản ảnh các
quan hệ bên trong và bên ngoài của thò trường tư bản.
Quan điểm thứ hai nhận đònh TTCK được đặc trưng bởi thò trường vốn
không phải đồng nhất là một. Như vậy, TTCK và thò vốn thường khác nhau,
TTCK chủ yếu mua bán công cụ tài chính dài hạn như: trái phiếu Chính phủ, cổ
phiếu và trái phiếu công ty,…
Quan điểm thứ ba theo khảo sát thực tế ở Sở giao dòch chứng khoán
(SGDCK) cho rằng TTCK là thò trường cổ phiếu-Stock Market.
Tuy nhiên, một nhận đònh tương đối rõ ràng, đầy đủ phù hợp với sự phát
triển của TTCK hiện nay là:
TTCK có thể được đònh nghóa như là một cơ chế của hoạt động giao dòch
mua bán các loại tài sản tài chính dài hạn từ các lệnh giao dòch mua, bán chứng
khoán (buy order or sell order) [21].
Luật chứng khoán chỉ nhận đònh thò trường giao dòch chứng khoán là đòa
điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán chứng khoán và
giao dòch chứng khoán.
Bản chất thò trường chứng khoán
• Là thò trường thể hiện mối quan hệ giữa cung, cầu của vốn đầu tư,
giá của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá của vốn đầu tư
• Là đònh chế tài chính trung gian, nối kết các chủ thể cung–cầu vốn
tham gia trên thò trường.
Phân loại thò trường chứng khoán
7
• Theo quá trình luân chuyển vốn, TTCK bao gồm: thò trường sơ cấp
(Primary market) là thò trường của các loại chứng khoán mới phát hành và thò
trường thứ cấp (Secondary market) là thò trường của các loại chứng khoán đã
được giao dòch.
• Theo hình thức tổ chức thò trường, TTCK gồm: Thò trường tập trung
(Stock Exchange) hay là SGDCK là thò trường chính thức, giao dòch các chứng
khoán theo đúng các quy đònh pháp luật. Thò trường phi tập trung (Over- the-
counter market) là thò trường không có đòa điểm giao dòch chính thức, thò trường
của các nhà môi giới (Broker), nhà tự doanh chứng khoán mua bán với nhau,
giao dòch được diễn ra tại các quầy, sàn giao dòch của các thành viên thông qua
điện thoại hay mạng máy tính diện rộng.
• Theo hàng hóa, TTCK gồm: thò trường trái phiếu, thò trường cổ
phiếu và thò trường các công cụ dẫn xuất
• Theo phương thức giao dòch gồm thò trường giao ngay (Spot market)
và thò trường kỳ hạn (Future market).
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu thò trường chứng khoán
1.1.1.3 Chức năng cơ bản thò trường chứng khoán trong cơ chế thò trường
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
8
Đây là chức năng quan trọng nhất của TTCK, TTCK sẽ thu hút và tập
trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế qua các công cụ tài chính đa
dạng, phong phú để có khả năng tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn phát triển
hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội cũng như tài trợ cho các
nhu cầu tạo vốn, tăng vốn của các doanh nghiệp và Chính phủ. TTCK cũng là
yếu tố quyết đònh để thu hút vốn ĐTNN. Đây là yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ
có hiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế.
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
công cụ đầu tư đa dạng. Các loại chứng khoán trên TTCK luôn có các đặc thù
khác nhau như: tính chất, khả năng sinh lời, độ rủi ro,… NĐT có khả năng lựa
chọn hàng hóa để phù hợp với nhu cầu, mục tiêu đầu tư và việc hoạch đònh danh
mục đầu tư. Vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Thông qua TTCK, các NĐT có thể dễ dàng chuyển đổi các chứng khoán
sở hữu thành tiền khi có nhu cầu. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc
tính hấp dẫn của chứng khoán đối với NĐT. Đây là yếu tố cho thấy tính linh
hoạt, an toàn của vốn đầu tư. Một thò trường chứng khoán càng năng động và
hiệu quả (Efficient market) càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các
chứng khoán giao dòch trên thò trường
- Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp
Giá của chứng khoán là thước đo hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp một cách tổng hợp và chính xác. Thông qua giá thò trường của chứng
khoán giúp cho việc đánh giá, so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được
nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành
9
mạnh giữa các doanh nghiệp. Ngược lại, TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin
hoàn hảo sẽ góp phần đònh giá chứng khoán được chính xác
- Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vó mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy
bén và chính xác. Sự tăng giảm giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu tăng trưởng
hoặc suy thoái kinh tế của một quốc gia. Vì thế, TTCK được coi là phong vũ
biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các
chính sách kinh tế vó mô: chính sách thuế, chính sách lãi suất, quản lý lạm phát,
về thu- chi ngân sách.
Các chức năng của TTCK có phát huy tác dụng còn phụ thuộc vào sự
quản lý, giám sát của nhà nước và vai trò của các chủ thể tham gia thò trường ở
mỗi quốc gia.
1.1.1.4 Các chủ thể tham gia thò trường chứng khoán
Các tổ chức, cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau
Nhà phát hành-Issuer
Nhà phát hành (Tổ chức phát hành) là các tổ chức đã và đang thực hiện
việc phát hành chứng khoán, huy động vốn thông qua TTCK. Nhà phát hành là
người cung cấp chứng khoán-hàng hóa của TTCK.
- Chính phủ và chính quyền đòa phương là nhà phát hành các trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu đòa phương, trái phiếu công trình, tín phiếu kho bạc.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty .
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ theo Luật đònh.
Nhà đầu tư -Investor
10
NĐT là những người thực hiện mua và bán chứng khoán trên TTCK. NĐT
có thể được chia thành 2 loại:
- NĐT cá nhân: là những cá nhân và hộ gia đình, có vốn nhàn rỗi tạm
thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tạo lợi nhuận.
- NĐT có tổ chức: hay còn gọi là các đònh chế đầu tư, thường xuyên mua
bán chứng khoán với số lượng lớn trên thò trường. Các tổ chức này thường có các
bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên viên có kinh nghiệm để nghiên cứu
thò trường và đưa ra các quyết đònh đầu tư.
Theo quy đònh Việt Nam, NĐT có tổ chức là: công ty chứng khoán
(CTCK), ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư chứng
khoán, tổ chức khác có kinh nghiệm hoạt động trong lónh vực tài chính đáp ứng
yêu cầu do Bộ Tài chính quy đònh. Mặt khác, các CTCK, các NHTM cũng có thể
trở thành NĐT chuyên nghiệp khi họ mua bán chứng khoán cho chính mình.
Các tổ chức kinh doanh trên TTCK-Dealer
- CTCK: là những tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động trong
lónh vực chứng khoán, có thể thực hiện một hoặc một số các nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư,
bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán. Để có thể được thực
hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo được vốn điều lệ
nhất đònh và phải được phép của các cơ quan có thẩm quyền đại diện Nhà nước.
- Các NHTM: một số nước, các NHTM có thể sử dụng vốn tự có để tăng
và đa dạng hóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán. Tuy nhiên các
ngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất đònh để
bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán. Một số nước cho
11
phép NHTM thành lập công ty con độc lập để kinh doanh chứng khoán và thực
hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
- Quỹ đầu tư chứng khoán: là một loại tổ chức tài chính trung gian, quỹ
hình thành từ vốn góp của người đầu tư ủy thác cho công ty quản lý quỹ
(CTQLQ), quản lý và đầu tư tối thiểu 60% giá trò tài sản của quỹ vào chứng
khoán. Quỹ đầu tư chứng khoán do CTQLQ cùng với các tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nước thành lập. Vốn điều lệ quỹ là số vốn bằng tiền do tất cả
người đầu tư thực góp và được ghi trong điều lệ quỹ.
Các tổ chức có liên quan đến TTCK
_ Các cơ quan quản lý của Chính phủ- Ủy ban chứng khoán Nhà nước
(State securities commission- SSC)
Đây là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt
động về chứng khoán và TTCK. Nhìn chung các cơ quan quản lý thò trường của
Chính phủ chỉ thực hiện các chức năng quản lý chung chứ không trực tiếp điều
hành và giám sát thò trường. Các cơ quan này có thẩm quyền ban hành các qui
đònh điều chỉnh các hoạt động trên TTCK tạo nên cơ sở cho các tổ chức tự quản
trực tiếp thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thò trường của mình.
Ở Việt Nam, cơ quan này là Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)
được thành lập theo nghò đònh 75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ. Sau hơn 8
năm hoạt động, vào ngày 19/02/2004 Chính phủ ban hành Nghò đònh
66/2004/NĐ-CP chuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính. UBCKNN là cơ quan trực
thuộc Bộ Tài chính, thực hiên chức năng tổ chức, quản lý Nhà nước trong lónh
vực chứng khoán và TTCK
Với các chức năng cơ bản của UBCKNN nhằm đảm bảo duy trì TTCK
hoạt động ổn đònh, công bằng và minh bạch-TTCK hiệu quả (Efficient market).
12
Tính hiệu quả được thể hiện làm thế nào để giao dòch đạt hiệu quả, sinh lời và
ích lợi cho người kinh doanh cũng như người đầu tư. Các vấn đề này bao gồm:
a. Tập hợp và phổ biến các thông tin về giao dòch trên thò trường: khối
lượng giao dòch, giá đóng cửa và mở cửa,
b. Tập hợp và phổ biến các thông tin thực tại về người phát hành cho các
NĐT mua và bán chứng khoán biết để quyết đònh mức giá thò trường
c. Kiểm tra và đề phòng sự gian lận và thao túng thò trường
d. Phát triển phương pháp giao dòch tốt hơn, hình thức tài trợ hiện đại hơn
e. Cải tiến việc thanh toán bù trừ
f. Thương mại hóa và quảng cáo nhằm mở rộng quyền sở hữu chứng
khoán cho nhiều NĐT trong công chúng
_ Các tổ chức tự quản- Self- Regulatory Organizations (SROs)
Nhìn chung các tổ chức tự quản gồm có Sở giao dòch chứng khoán-Stock
Exchange và Hiệp hội các nhàø kinh doanh chứng khoán- National Association of
securities Dealers.
• Sở giao dòch là tổ chức tự quản bao gồm các CTCK thành viên, trực
tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dòch chứng khoán thực hiện trên
Sở. SGDCK thực hiện vận hành chứng khoán thông qua bộ máy tổ chức và hệ
thống các quy đònh, văn bản pháp luật về giao dòch chứng khoán trên cơ sở phù
hợp với các quy đònh của pháp luật và UBCK. SGDCK là pháp nhân có chức
năng tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động giao dòch chứng khoán niêm yết.
SGDCK chòu sự giám sát của UBCK
Hoạt động trên SGDCK phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản :
• Nguyên tắc trung gian
13
• Nguyên tắc cạnh tranh đấu giá
• Nguyên tắc công khai
Thành viên SGDCK: Tuỳ theo pháp luật của mỗi nước, thành viên Sở có
thể là một pháp nhân, một thể nhân được cấp giấy phép ngành nghề. Trong
SGDCK xét theo tính chất thành viên, có ba loại thành viên sau:
- Thành viên là người môi giới chứng khoán (Broker): là người được cấp
giấy phép hành nghề môi giới. Họ mua bán chứng khoán theo yêu cầu của
khách hàng để hưởng hoa hồng
- Thành viên là người kinh doanh chứng khoán (Dealer): là người được
cấp giấy phép tự doanh. Họ là những người mua bán chứng khoán chính mình
bằng nguồn vốn của họ. Chủ thể kinh doanh chứng khoán tùy theo tính chất,
mục đích có thể là một NĐT (Investor) hay là nhà đầu cơ (Speculator)
- Thành viên vừa là người môi giới chứng khoán vừa là người kinh doanh
chứng khoán: là những CTCK lớn, có quy mô vốn lớn, có uy tín được cấp giấy
phép để thực hiện nghiệp vụ môi giới lẫn tự doanh chứng khoán.Thu nhập là
khoản hoa hồng môi giới và khoản lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán.
Ở SGDCK NEWYORK (NYSE) còn có 1 loại thành viên còn gọi là
chuyên gia (Specialist), có vai trò duy trì năng lực TTCK và cân bằng sự mất
cân đối tạm thời trong cung cầu của một loại chứng khoán
• Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của
các CTCK được thành lập với mục đích tạo ra tiếng nói chung cho toàn ngành
kinh doanh chứng khoán và đảm bảo các lợi ích chung của các NĐT và TTCK.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thực hiện các chức năng điều hành và
giám sát TTCK như sau:
+ Đào tạo nghiên cứu trong lónh vực chứng khoán.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét