Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
chiếm 21%, say rượu bia chiếm 7,3%…). Tổng số xe cơ giới đường bộ là
13.594.000
xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm
43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần học luật, không cần
thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi
thường pháp luật.
- Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân
Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn
bán, kinh doanh, họp chợ… xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường qu
ốc lộ
là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao… tiềm ẩn nhiều
nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.
II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM
XE CƠ GIỚI.
1. Ưu điểm của loại hình giao thông đường bộ tại Việt Nam.
- Xe cơ giới có tính động cơ cao, linh hoạt với sự tham gia đông đảo
của các loại xe: xe tải, xe khách, xe con, xe máy… hoạt động trong phạm vi
rộng kể cả địa hình phức tạp, có thể vận chuyển người và hàng hoá tới
những nơi mà các loại hình vận tải khác không thể đến được.
- Tốc độ vận chuyển của loại hình vận tải này nhanh với chi phí vừa
phải. Tiền vốn
đầu tư mua sắm phương tiện, xây dựng bến bãi ít tốn kém
hơn các hình thức khác, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thu nhập của
người dân Việt Nam.
- Việc sử dụng các phương xe cơ giới cũng đơn giản và thuận tiện hơn
các loại phương tiện khác.
Với ưu điểm trên số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay đang phát
triển như
vũ bão.
2. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới.
Tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng cả về số vụ và mức độ
nghiêm trọng. Mặt khác, có tới 70% số người đi trên các phương tiện giao
thông là người chủ, người trụ cột trong gia đình cũng như ở các doanh
nghiệp nên khi tai nạn giao thông xảy ra thì thiệt hại không chỉ bó hẹp trong
phạm vi vụ tai nạn mà còn làm mất thu nhập cho cả gia đình, ảnh hưởng đến
quá trình sản xuất kinh doanh và hậu quả cho nề
n Kinh tế quốc dân. Bên
cạnh đó, có những chủ xe gây tai nạn rồi bổ trốn. Việc giải quyết bồi thường
trở nên khó khăn, lợi ích của người bị nạn không được bảo đảm, gây ảnh
hưởng tiêu cực trong dư luận xã hội. Bởi vậy, nhu cầu lập quỹ chung để bù
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
đắp tổn thất là một yếu tố khách quan. Đó là lý do cơ bản cho thấy sự cần
thiết khách quan cho sự ra đời của bảo hiểm xe cơ giới.
Khi tai nạn giao thông xảy ra, người có lỗi phải có trách nhiệm bồi
thường những thiệt hại do anh ta gây ra bao gồm:
- Thiệt hại về người và tài sản của người thứ ba và hành khách vận
chuyển trên xe.
- Thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe.
- Thi
ệt hại về người và tài sản cũng như thiệt hại do gián đoạn kinh
doanh của chính chủ xe.
Trên thực tế việc giải quyết hậu quả của những vụ tai nạn giao thông
thường rất phức tạp và mất nhiều thời gian vì một số lý do:
- Sau khi gây tai nạn một phần do hoảng sợ, một phần do thiếu trách
nhiệm, lái xe đã bỏ trốn để mặc cho nạn nhân ph
ải chịu hậu quả.
- Lái xe quá nghèo, không đủ khả năng tài chính để bồi thường thiệt
hại cho người thứ ba cũng như cho chủ xe và hàng hoá trên xe.
- Sau tai nạn lái xe bị thiệt mạng không thể bồi thường cho nạn nhân
được.
Vậy để đảm bảo bù đắp những thiệt hại sau những vụ tai nạn, thì việc
tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hoàn toàn cần thiết. Nhà bảo hiểm sẽ bù đắp
các thiệt hại của chính chủ xe cũng như thay mặt chủ xe bồi thường cho
người thứ ba, giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả tai nạn và sớm ổn
định sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống.
3. Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.
Hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã đem lại cho cá nhân,
tổ chức, xã hội những tác dụng to lớn sau:
- Đối với cá nhân:
Rủi ro là yếu tố ngẫu nhiên không lường trước được, có thể xảy ra cho
bất cứ cá nhân, bất cứ phương tiện giao thông nào và hoàn toàn nằm ngoài ý
muốn chủ quan của con người. Thêm vào đó xe cơ giới dù là xe máy cũng là
một tài sản có giá trị l
ớn. Do vậy bảo hiểm xe cơ giới ra đời góp phần ổn
định tài chính, khắc phục những hậu quả khó khăn về vật chất cũng như tinh
thần cho người bị nạn, giúp họ nhanh chóng khôi phục sau rủi ro tai nạn.
Đồng thời, nó cũng giúp chủ phương tiện trách được những khoản chi phí
bất thường làm mất cân đối tài chính, đảm bảo cho người bị thiệt hại được
th
ực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự của chủ trách nhiệm.
Nhờ có quỹ tập chung của nhà bảo hiểm, khi có tai nạn xảy ra nhà bảo
hiểm giải quyết bồi thường nhanh chóng, kịp thời góp phần xoa dịu bớt căng
thẳng giữa chủ xe và nạn nhân.
- Đối với xã hội:
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
Việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã góp phần đảm bảo
an ninh và an toàn xã hội. Thông qua công tác thương lượng, hoà giải làm
giảm bớt bức súc căng thẳng giữa chủ xe và người bị thiệt hại trong vụ tai
nạn. Nó cũng giúp lái xe luôn có ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông
góp phần ngăn ngừa tổn thất.
- Đối với Nhà Nước:
Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ gi
ới ra đời cũng góp phần giảm bớt gánh
nặng cho ngân sách Nhà Nước đồng thời làm tăng thu cho ngân sách Nhà
Nước, tăng thu ngoại tệ cho Nhà Nước. Phí bảo hiểm là nguồn tài chính
đáng kể, ngoài việc được dùng để bồi thường thiệt hại và đề phòng hạn chế
tổn thất, nó còn được dùng để nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng giao
thông, một mặt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặ
t khác hạn chế tai
nạn giao thông xảy ra và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
III. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.
1. Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đây là hình
thức bảo hiểm bắt buộc đối với tất cả các chủ xe cơ giới, bởi vì:
- Xe cơ giới là một nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây tai nạn bất cứ
lúc nào mà con người không thể lường trước được. Đất nước ngày càng phát
triển, mạng lưới giao thông ngày càng dày đặc thì tai nạn do xe cơ giới gây
ra ngày càng nhiều.
- Bảo hiểm TNDS của xe cơ giới là một biện pháp kinh tế mà các chủ
xe có trách nhiệm đóng góp về mặt tài chính để hình thành nên quỹ bảo
hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý. Quỹ này nhằm đảm bảo bồi
thường nhanh chóng, khắc phục hậu quả kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng hợp pháp của những người bị thiệt hại về thân thể
và tài sản do
xe cơ giới gây ra. Đặc biệt là trong trường hợp người gây tai nạn không có
khả năng về kinh tế để đền bù thiệt hại hoặc người đó cũng đã tử vong trong
chính vụ tai nạn đó.
- Thông qua quỹ này, các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc bồi
thường, bù đắp cho chủ xe khi gặp phải rủi ro sự cố tai nạn xảy ra, giúp chủ
xe khắc phục
được hậu quả tài chính, ổn định sản xuất, góp phần ổn định
kinh tế xã hội.
- Ngoài ra quỹ này còn được sửa dụng một phần vào việc đề phòng và
hạn chế tổn thất thông qua việc đóng góp xây dựng những công trình phục
vụ an toàn giao thông như các đường thoát nạn, các biển báo nguy hiểm…
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
và tổ chức các chiến dịch tuyên truyền rộng rãi về luật giao thông, giáo dục
ý thức chấp hành pháp luật của mọi người khi tham gia giao thông.
a. Đối tượng bảo hiểm:
Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân
hay đại diện cho một tập thể. Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho phần
TNDS của chủ xe phát sinh do sự hoạt động và điều khiển xe cơ gi
ới của
người lái xe. Như vậy, đối tượng được bảo hiểm là phần TNDS của chủ xe
cơ giới đối với người thứ ba. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của
chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây nên.
Đối tượng được bảo hiểm không được xác đị
nh trước. Chỉ khi nào
việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người
thứ ba thì đối tượng này mới được xác định cụ thể. Các điều kiện phát sinh
TNDS của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:
- Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ
của bên thứ ba.
- Điều kiện thứ hai: Ch
ủ xe (lái xe) phải có hành vi trái phát luật. Có
thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi
phạm các quy định khác của Nhà nước…
- Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái
phát luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
- Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.
Thực tế chỉ cần đồng thời xả
y ra ba điều kiện thứ nhất, thứ hai, thứ ba
là phát sinh TNDS đối với người thứ ba của chủ xe (lái xe). Nếu thiếu một
trong ba điều kiện trên TNDS của chủ xe sẽ không phát sinh, và do đó không
phát sinh trách nhiệm của bảo hiểm. Điều kiện thứ tư có thể có hoặc không,
vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà
không hoàn toàn do lỗi của chủ xe (lái xe). Ví dụ: Xe đang chạ
y bị nổ lốp,
lái xe mất khả năng điều khiển nên đã gây ra tai nạn. Trong trường hợp này,
TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điều kiện đầu tiên.
Chú ý rằng, bên thứ ba trong bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới là những
người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:
- Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe.
- Những ng
ười lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con
cái…
- Hành khách, những người có mặt trên xe.
b. Phạm vi bảo hiểm:
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
• Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường
trước gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Cụ thể, các thiệt hại
nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm bao gồm:
- Tai nạn gây thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ
ba;
- Tai nạn gây thiệt hại về tài sản, hàng hoá… của bên thứ ba;
- Tai nạn gây thiệt tài sản làm ảnh h
ưởng đến kết quả kinh doanh hoặc
giảm thu nhập;
- Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa
hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo
hiểm (kể cả biện pháp không đem lại hiệu quả).
- Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia
cứu chữ
a, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.
• Các rủi ro được loại trừ:
Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các
tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau:
- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại.
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao
thông theo quy định của đi
ều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ.
- Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông
đường bộ như:
+ Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định
an toàn kỹ thuật và môi trường.
+ Lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái bị tịch thu, bằng
không hợp lệ.
+ Lái xe bị ảnh hưởng của các chất khích thích như: rượu, bia,
ma tuý…
+ Xe chở chất cháy, nổ trái phép.
+ Xe sử d
ụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử
sau khi sửa chữa.
+ Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm, xe đi đêm không có đèn
chiếu sáng hoặc chỉ có đèn bên phải.
+ Xe không có hệ thống lái bên phải.
- Thiệt hại do chiến tranh, bạo động.
- Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình
trệ sản xuất kinh doanh.
- Thiệt hại đố
i với tài sản bị cướp, bị mất cắp trong tai nạn.
- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia (trừ khi có thoả thuận khác).
Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại đối với những tài sản đặc biệt như:
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
+ Vàng bạc, đá quý.
+ Tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền.
+ Đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm.
+ Thi hài, hài cốt.
c. Phí bảo hiểm:
• Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số
lượng đầu phương tiện của mình. Mặt khác, các phương tiện khác nhau về
chủng loại, về độ lớn có xác xuất gây ra tai nạn khác nhau. Do đó, phí bảo
hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện)
tuỳ theo mỗi đầu phương tiện.
Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương
tiện (thường tính theo năm) là:
P = f + d
Trong đó:
P – Phí bảo hiểm / đầu phương tiện
f - Phí thuần
d – Phụ phí
Phí thuầ
n được tính theo công thức:
n
∑ Si x Ti
i = 1
f= n
∑ Ci
i=1
Trong đó:
Si – Số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh TNDS của chủ xe
được bảo hiểm bồi thường trong năm thứ i.
Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn trong năm
thứ i.
Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm
thứ i.
n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1,n).
Như vậy, “f” thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n
năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.
Đối với các phương tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớn hơn
như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệ phụ phí so với
mức phí cơ bản. Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm 30% mức phí cơ
bản.
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
Đối với các phương tiện hoạt động ngắn hạn (dưới một năm), thời
gian tham gia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định
như sau:
P
ngắn hạn
= P
năm
x Tỷ lệ phí ngắn hạn theo tháng
Trường hợp đã đóng phí (tham gia bảo hiểm) cả năm, nhưng vào một
thời điểm nào đó phương tiện không hoạt động nữa hoặc chuyển sở hữu mà
không chuyển quyền bảo hiểm thì chủ phương tiện sẽ được hoàn phí bảo
hiểm tương ứng với số thời gian còn lại của năm (làm tròn tháng) nếu trước
đó chủ phương tiện chưa có khiếu nại và được bảo hiểm bồi thường.
Số phí hoàn lại được xác định như sau:
P
năm
x Số tháng xe không hoạt động
P
hoàn lại
=
12 tháng
Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện. Tuỳ theo số
lượng phương tiện, người bảo hiểm sẽ quy định thời gian, số lần nộp và mức
phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượng
phương tiện tham gia bảo hiểm (tối đa thường là 20%). Nếu không thực hiện
đúng quy định này sẽ bị phạt.
• Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003
như sau:
Về người: 30 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp
đồng vận chuyển hành khách).
Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba).
Phí bảo hiểm (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển
hành khách).
Xe taxi:
- Dưới 6 chỗ tính bằng 150% của phí xe kinh doanh dưới 6 chỗ quy định tại mục
IV.A.
- Xe trên 6 chỗ tính bằng phí xe kinh doanh cùng số chỗ ngồi quy định tại mục
IV.A.
Xe buýt: Tính bằng phí bảo hiểm của xe không kinh doanh cùng số chỗ ngồi theo
quy định tại mục III.
Xe ôtô chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh
vận tải cùng trọng tải quy định tại mục III.B.
Xe máy chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh
vận tải dướ
i 3 tấn quy định tại mục III.B.
Xe rơ moóc: Tính bằng 30% phí bảo hiểm của xe kéo rơ moóc đó.
Bảng 3: Biểu phí TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại Pjico.
STT LOẠI XE PHÍ BẢO HIỂM NĂM (Đồng)
I MÔ TÔ 2 BÁNH:
1 Từ 50cc trở xuống 50,000
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
2 Trên 50 cc 55,000
II XE LAM, XE MÔ TÔ BA BÁNH, XÍCH LÔ MÁY, XE LÔI 140,000
III XE Ô TÔ KHÔNG KINH DOANH VẬN TẢI
A Xe ô tô chở người
1 Loại xe dưới 6 chỗ ngồi 200,000
2 Loại xe từ 6 đến 11 chỗ ngồi 400,000
3 Loại xe từ 12 đén 24 chỗ ngồi 640,000
4 Loại xe trên 24 chỗ 920,000
B Xe ô tô chở hàng (xe tải)
1 Dưới 3 tấn 340,000
2 Từ 3 đến 8 tấn 670,000
3 Trên 8 tấn 930,000
C Xe vừa chở người vừa chở hàng (pickup) 470,000
IV XE Ô TÔ KINH DOANH VẬN TẢI
A
Xe ô tô chở người
1 Dưới 6 chỗ ngồi theo đăng ký 350,000
2 6 chỗ ngồi theo đăng ký 430,000
3 7 chỗ ngồi theo đăng ký 500,000
4 8 chỗ ngồi theo đăng ký 580,000
5 9 chỗ ngồi theo đăng ký 650,000
6 10 chỗ ngồi theo đăng ký 730,000
7 11 chỗ ngồi theo đăng ký 800,000
8 12 chỗ ngồi theo đăng ký 880,000
9 13 chỗ ngồi theo đăng ký 950,000
10 14 chỗ ngồi theo đăng ký 1,030,000
11 15 chỗ ngồi theo đăng ký 1,110,000
12 16 chỗ ngồi theo đăng ký 1,180,000
13 17 chỗ ngồi theo đăng ký 1,360,000
14 18 chỗ ngồi theo đăng ký 1,330,000
15 19 chỗ ngồi theo đăng ký 1,410,000
16 20 chỗ ngồi theo đăng ký 1,480,000
17 21 chỗ ngồi theo đăng ký 1,560,000
18 22 chỗ ngồi theo đăng ký 1,630,000
19 23 chỗ ngồi theo đăng ký 1,710,000
20 24 chỗ ngồi theo đăng ký 1,790,000
21 25 chỗ ngồi theo đăng ký 1,860,000
22 Trên 25 chỗ ngồi 1.860.000 + 20.000 x (Số chỗ - 25 chỗ)
B Xe ô tô chở hàng (xe tải)
1 Dưới 3 tấn 380,000
2 Từ 3 đến 8 tấn 740,000
3 Trên 8 tấn 1,020,000
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
(Nguồn: công ty Pjico
)
(Lưu ý: Phí bảo hiểm trên chưa bao gồm 10% thuế GTGT).
2. Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại về thân thể và
tính mạng của hành khách.
Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc với mục đích:
- Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách không may bị
tai nạn và gia đình họ.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai
nạn khắc phục hậu quả kịp thời, nhanh chóng.
- Xét trên phạm vi xã hội, nó góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn
giao thông. Tăng thu ngân sách cho Nhà nước để
từ đó có điều kiện đầu tư
trở lại nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông.
a. Đối tượng bảo hiểm:
Là tính mạng và tình trạng sức khoẻ của tất cả hành khách đi trên các
phương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách. Những người
này không phân biệt lứa tuổi, nghề nghiệp, miễn là họ có vé hoặc miễn giảm
vé theo quy định. Người được bả
o hiểm bao gồm cả những hành khách được
ưu tiên đặc biệt không phải mua vé, trẻ em đi theo người lớn được miễn vé.
Tuy nhiên, hành lý, tài sản, hàng hóa của hành khách mang theo, các
lái phụ xe và những người đang làm việc trên các phương tiện vận chuyển
hành khách (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ, thuyền phà và máy bay) không thuộc đối
tượng bảo hiểm. Nghiệp vụ này ở nước ta được triển khai dưới hình thức bắt
buộc, vì vậy phí bảo hiểm đượ
c tính vào giá cước vận chuyển và mặc nhiên
mỗi tấm vé là một giấy chứng nhận bảo hiểm.
b. Phạm vi bảo hiểm:
• Các rủi ro được bảo hiểm:
Là các rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra trong suốt hành trình
của hành khách gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của người
được bảo hiểm.
- Thiên tai bao gồm: Thời tiết xấu, bão lốc, lũ lụt, sụt l
ở đất đá… gây
thiệt hại cho phương tiện chuyên chở, do đó gây thiệt hại đến tính mạng và
tình trạng sức khoẻ của hành khách.
- Tai nạn bất ngờ: Đâm va, cháy nổ, lật nghiêng, do sự cố kỹ thuật của
chính phương tiện, lỗi lầm của người điều khiển phương tiện hoặc do
phương tiện khác đâm vào…
• Các rủi ro loại trừ:
Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ
giới tại công ty Pjico.
- Bị tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm pháp luật
(nhảy tàu, xe khi phương tiện chưa dừng hẳn, bám xe, đứng ngồi không
đúng chỗ quy định, hành hung, ăn cắp…).
- Bị tai nạn do những nguyên nhân không liên quan trực tiếp đến quá
trình vận chuyển hoặc bản thân tình trạng sức khoẻ của hành khách gây ra
(ngộ độc thức ăn, trúng gió, ốm đau…).
• Thời hạn hiệu lực của bảo hiểm:
- Là th
ời gian hợp lý để thực hiện cuộc hành trình, tức là bắt đầu từ
lúc hành khách bước chân lên phương tiện và kết thúc khi hành khách rời
khỏi phương tiện một cách an toàn tại bến, ga hoặc sân bay cuối cùng ghi
trên vé. Thời gian tạm ngừng hợp lý (lấy nhiên liệu, ăn uống…) vẫn được
tính vào thời hạn bảo hiểm. Nếu đi liên vận, hành khách phải thay đổi
phương tiện, trong lúc chờ đợi để lên phương ti
ện tiếp theo vẫn được bảo
hiểm.
- Nếu hành khách tự ý hay vô tình rời bỏ cuộc hành trình, rời bỏ hay
lạc mất phương tiện chuyên chở thì coi như thời hạn bảo hiểm chấm dứt.
c. Số tiền bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm được ấn định theo quy định chung đối với mỗi loại
phương tiện hay một số loại phương ti
ện. Chẳng hạn, nếu hành khách đi trên
máy bay, số tiền bảo hiểm là 20.000 USD/hành khách. Nếu đi trên tàu hoả,
tàu thuỷ, ôtô số tiền bảo hiểm là 12.000.000 VNĐ/hành khách. Vì nghiệp vụ
được thực hiện dưới hình thức bắt buộc nên người tham gia bảo hiểm không
có quyền lựa chọn số tiền bảo hiểm. Trẻ em mua nửa vé hoặc được miễn vé
thì số tiền bảo hiểm chỉ bằng 50% số
tiền bảo hiểm của người lớn.
d. Phí bảo hiểm:
Vì thực hiện bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm được tính vào giá
vé. Cơ quan làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách bán vé cũng là người thu
phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Số tiền bảo hiểm.
- Loại phương tiện vận chuyển.
- Độ dài tuyến đường chuyên chở.
- Đặ
c điểm tuyến đường hoạt động của phương tiện vận chuyển (chất
lượng đường xá, địa hình).
Có 2 phương pháp tính phí được các công ty bảo hiểm vận dụng:
• Phí bảo hiểm tính trên 1km/ hành khách, cho từng loại phương tiện
với giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho
trước.
Công thức:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét