Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tốc độ tiêu thụ sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật ở Chi nhánh công ty vật tư bảo vệ thực vật II (HN)

Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
2.3. Tiêu thụ sản phẩm là khâu hoạt động có quan hệ mật thiết với
khách hàng.
Nó thể hiện quan hệ của người mua và người bán, thể hiện thế lực
của doanh nghiệp trên thương trường. Đồng thời nó cũng bộc lộ những mặt
yếu kém của doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển trên thương trường phải giải quyết những tồn tại và yếu kém ở khâu sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm.
2.4. Tiêu thụ sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
Cùng với các biện pháp tăng lợi nhuận như tiết kiệm nguyên vật
liệu, hạ giá thành, tăng chất lượng, thì tăng sản lượng tiêu thụ là biện pháp
hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh của doanh nghiệp.
II. NỘI DUNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH
NGHIỆP.
1. Nghiên cứu và tìm hiểu thị trường.
Trong kinh tế thị trường, thị trường tạo nên môi trường kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có khả năng thích ứng cao với sự đa
dạng và động thái của thị trường doanh nghiệp đó mới có điều kiện tồn tại và
phát triển. Mặt khác trên thị trường còn có nhiều doanh nghiệp khác hoạt
động, doanh nghiệp nào cũng đặt ra yêu cầu mở rộng phần thị trường của
mình. Để đảm bảo khả năng thắng lợi trong cạnh tranh, để tránh những rủi ro
bất trắc trong kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải hiểu biết cặn kẽ trên thị
trường và khách hàng trên thị trường ấy. Mục đích chủ yếu của việc nghiên
cứu thị trường là xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, các
sản phẩm này bao gồm các sản phẩm doanh nghiệp đang sản xuất (đã có trong
cơ cấu sản phẩm ) và do vậy có ý định thâm nhập thị trường rộng lớn hơn trên
cơ sở nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng với
thị trường của sản phẩm do mình sản xuất ra và tiến hành tổ chức sản xuất,
tiêu thụ những sản phẩm thị trường đòi hỏi.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
5
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
Nội dung chủ yếu của việc nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khả
năng thâm nhập thị trường và mở rộng thị trường cuả doanh nghiệp, được tiến
hành qua ba bước:
Bước 1: Tổ chức thu thập các nguồn thông tin và nhu cầu của thị
trường, các thông tin đó bao gồm: Thị trường cần gì? khối lượng bao nhiêu?
chất lượng có thể chấp nhận? thời gian cần? giá cả có thể chấp nhận?
Bước 2: Phân tích và sử lý các loại thông tin đã thu thập được. Mục
đích của nó là trên cơ sở các thông tin đã thu thập về tình hình thị trường
doanh nghiệp cần xác định thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản
phẩm của doanh nghiệp và lựa chọn các thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp
có khả năng thâm nhập và phát triển việc tiêu thụ sản phẩm của mình.
Bước 3: Qua việc nghiên cứu thị trường về sản phẩm mà doanh
nghiệp cần cung ứng là phải nắm được sự lựa chọn của khách hàng và người
tiêu dùng về:
+ Sản phẩm với những đặc tính của nó.
+ Quy cách phẩm chất sản phẩm.
+ Giá cả sản phẩm.
+ Thời gian đáp ứng.
+ Quy mô nhu cầu (dung lượng thị trường) về loại sản phẩm đó.
2. Tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm.
2.1. Các hình thức tiêu thụ sản phẩm.
Bán buôn: Là hình thức tiêu thụ sản phẩm thông qua người bán
buôn là hình thức tiêu thụ gián tiếp mà sản phẩm của doanh nghiệp bán lại
cho người bán lẻ. Họ có vai trò rất quan trọng trên thị trường và các kênh
phân phối. Họ có khả năng chi phối người bán lẻ cũng như các quan hệ thị
trường, thậm chí họ có thể trở thành những nhà lũng loạn thị trường. Mặc dù
người bán buôn rất ít tiếp cận với người tiêu dùng song họ có thế mạnh là
trường vốn, phương tiện kinh doanh hiện đại, vì thế có thể đẩy mạnh tiêu thụ
sản phẩm cho doanh nghiệp.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
6
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
Bán lẻ: Đây là hình thức tiêu thụ sản phẩm sản phẩm của doanh
nghiệp đến tay người tiêu dùng. Hình thức này làm giảm bớt không gian vận
động của sản phẩm, lợi nhuận của doanh nghiệp không hoặc ít bị chia sẻ.
Doanh nghiệp có thể trực tiếp tiếp xúc với người tiêu dùng, người mua cuối
cùng nên có thể nắm bắt các thông tin của thị trường. Tuy nhiên hình thức này
có thể làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bị chậm lại và thu hồi
vốn lâu.
Đại lý, ký gửi: Đối với tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cần
quan tâm đến đại lý tiêu thụ sản phẩm chứ không phải đaị lý cho người bán
buôn hay bán lẻ. Về danh nghĩa đó là một bộ phận hoàn toàn độc lập, trên
thực tế có thể coi nó là bộ phận "bên trong" của doanh nghiệp làm chức năng
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và do đó doanh nghiệp đẩy nhanh quá
trình tiêu thụ sản phẩm.
Giữa doanh nghiệp và đại lý cùng nhau ký kết hợp đồng đại lý.
Trong hợp đồng qui định rõ trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm. Sử dụng hình thức này doanh nghiệp có thể đưa sản
phẩm của mình đi xa, mở rộng phần thị trường, tuy nhiên nó cũng làm giảm
bớt phần lợi nhuận của doanh nghiệp và khó thu hồi vốn.
Tiêu thụ sản phẩm thông qua môi giới: Do tính đa dạng và phức tạp
của các quan hệ kinh tế trên thị trường, đặc biệt là sự thay đổi nhanh chóng
của các quan hệ cung cầu, tình trạng cạnh tranh và vấn đề giá cả mà các
doanh nghiệp sản xuất, bán buôn bán lẻ, đại lý không phải lúc nào cũng nắm
bắt được tất cả các thông tin một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ. Vì thế
mà xuất hiện những người môi giới để chắp nối các quan hệ buôn bán trên thị
trường. Người môi giới giúp doanh nghiệp tìm nơi tiêu thụ, tìm các cách thức
tiêu thụ. Hình thức này giúp cho các doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ
sản phẩm.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
7
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
2.2. Các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
2.2.1. Chính sách giao tiếp khuyếch trương sản phẩm.
+ Quảng cáo: Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin
để truyền tin về sản phẩm hay cho các trung gian hoặc cho khách hàng cuối
cùng bằng những phương thức nhất định để thuyết phục họ mua hàng của
doanh nghiệp.
Đây là một trong những vũ khí lợi hại nhất để thu hút khách hàng,
các thông tin quảng cáo rất phong phú đa dạng nhưng nội dung quảng cáo
phải trung thực và người quảng cáo phải có trách nhiệm với điều mình quảng
cáo. Lời quảng cáo mỗi sản phẩm phải thể hiện ý đồ quảng cáo, nhưng phải
gắn gọn và gây ấn tượng với các đối tượng tiếp nhận thông tin, không đánh
lừa khách hàng và bôi nhọ các doanh nghiệp khác. Vì quảng cáo rất tốn kém
nên sự đầu tư phải đem lại hiệu quả thông qua số lượng bán ra.
Quảng cáo là phương tiện tiêu thụ sản phẩm, quảng cáo làm cho
tiêu thụ sản phẩm được nhiều hơn, nhu cầu được biểu hiện nhanh hơn. Quảng
cáo thu hút sự quan tâm của khách hàng, cải thiện vị trí của doanh nghiệp trên
thị trường. Quảng cáo còn nhằm giới thiệu sản phẩm mới thể hiện sự cạnh
tranh của doanh nghiệp đối với các đối thủ khác trên thị trường.
Quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong hoạt động hỗ trợ bán hàng,
do vậy khi quảng cáo cần cần chú ý:
- Quảng cáo phải tác động lên khách hàng làm cho họ cảm thấy có
lợi khi tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
- Thiết kế biểu trưng sản phẩm của doanh nghiệp, biểu trưng ấy
phải chứa nội dung kinh tế kỹ thuật và mang tính nghệ thuật cao.
- Xác định lời quảng cáo đầy đủ, ấn tượng, ngắn gọn.
Tuỳ thuộc vào sản phẩm, đối tượng tiêu dùng sản phẩm, khả năng
tài chính mà doanh nghiệp lựa chọn các phương tiện và phương thức quảng
cáo thích hợp. Các phương tiện quảng cáo phổ biến như: báo chí, tivi,
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
8
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
apphích, các phương thức quảng cáo như: Quảng cáo liên tục, định kỳ,
quảng cáo đột xuất, quảng cáo bằng chiến dịch,
+ Hội nghị khách hàng: Việc tổ chức hội nghị khách hàng nhằm
thông tin cho khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp để doanh nghiệp biết
được nhu cầu của khách hàng. Đây là dịp dể doanh nghiệp tiếp cận thông tin
nhanh nhất, chính xác nhất. Để hội nghị khách hàng đạt hiệu quả cao, hội
nghị phải có mặt những khách hàng lớn và những loại hàng quan trọng. Trong
hội nghị khách hàng có thể nói rõ về những ưu nhược điểm của sản phẩm,
những vướng mắc trong quan hệ mua bán, những vướng mắc phiền hà
(nếucó) của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của họ đối với sản phẩm và
những nhu cầu trong tương lai, đồng thời doanh nghiệp cũng cần phân tích
cho khách hàng biết những dự án và chính sách tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
+ Hội trợ triển lãm: Đây cũng là một hoạt động hỗ trợ tích cực cho
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Thông qua hội trợ triển lãm doanh
nghiệp có thể giới thiệu rõ hơn, trực tiếp hơn về doanh nghiệp và sản phẩm
của mình. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp trực tiếp tiêu thụ sản phẩm,
tìm khách hàng, giao dịch với khách hàng, nhận biết được nhu cầu thị trường,
những nhược điểm cũng như thế mạnh của sản phẩm, làm cơ sở cho việc tìm
kiếm mặt hàng mới, thị trường mới.
+ Các hoạt động liên kết trong tiêu thụ sản phẩm: Thể hiện sự phối
hợp giữa các chủ thể trong việc chi phối thị trường chống hàng giả. Đây cũng
là hoạt động hỗ trợ tích cực để tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện cạnh tranh
ngày càng gay gắt trên thị trường. Liên kết trong tiêu thụ không phải là điều
mới mẻ trong kinh tế đương đại. Từ xưa trong dân gian đã có câu "buôn có
bạn, bán có phường".
2.2.2. Xúc tiến tiêu thụ sản phẩm.
+ Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm: Mạng lưới tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp là tập hợp các kênh giữa doanh nghiệp (người sản
xuất ) và người tiêu dùng sản phẩm. Nói cách khác đó là tập hợp các kênh đưa
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
9
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
sản phẩm từ nơi sản xuất đến tiêu thụ. Các yếu tố cấu thành mạng lưới tiêu
thụ bao gồm: Người sản xuất, người tiêu dùng, người bán buôn, người bán lẻ,
đại lý.
+ Kênh tiêu thụ: Là sự kết hợp giữa người sản xuất và người trung
gian để tổ chức vận động hàng hoá hợp lý nhất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu
của khách hàng cuối cùng và đạt được hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp.
Có 4 kiểu kênh sau:
1. Từ người sản xuất - đến người tiêu dùng cuối cùng.
2. Từ người sản xuất - qua người bánlẻ - đến người tiêu dùng.
3. Từ người sản xuất - qua người bán buôn - qua người bán lẻ - đến
người tiêu dùng.
4. Từ người sản xuất - người đại lý - qua người bán buôn - qua
người môi giới - qua người bán lẻ - đến người tiêu dùng.
Để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm và an toàn cho doanh
nghiệp thì các doanh nghiệp thường sử dụng nhiều loại kênh tiêu thụ. Trong
mỗi kênh người sản xuất có vai trò quyết định, người trung gian giữ vai trò
điều khiển.
III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TIÊU THỤ
SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Các nhân tố khách quan.
1.1. Các nhân tố thuộc tầm vĩ mô.
- Các yếu tố chính trị, các chính sách của nhà nước và luật pháp ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Các chính
sách mà nhà nước sử dụng như thuế, bình ổn giá cả, trợ giá, lãi suất tín dụng
ngân hàng, có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
10
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
- Ngoài ra, các chính sách về phát triển những nghành khoa học văn
hoá, nghệ thuật của nhà nước cũng có vai trò quan trọng, nó tác động trực tiếp
đến cung- cầu giá cả.
- Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chính sách nhà nước và các
nước khác trên thế giới về sản phẩm khoa học kỹ thuật, văn hoá, thể hiện
qua chính sách tiêu dùng dân tộc, quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước
khác trên thế giới cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường.
1.2. Nhân tố xã hội và công nghệ.
- Các yếu tố xã hội và công nghệ có ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp ( lựa chọn phương án, lập kế hoạch tiến độ tiêu
thụ sản phẩm, ). Các nhân tố tâm sinh lý, thời tiết, khí hậu, mức độ tăng dân
số, mức thu nhập bình quân của dân cư là những nhân tố tác động tích cực
đến tiêu thụ sản phẩm. Chẳng hạn khi mức thu nhập của người dân tăng lên,
người ta có thể tiêu dùng nhiều hơn, do vậy doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều
sản phẩm hơn.
- Sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép các doanh nghiệp
nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin với khối lượng lớn và
cũng sẽ thuận lợi hơn trong việc giao dịch cũng như có thể thiết lập và mở
quan hệ làm ăn với khu vực thị trường.
1.3. Điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới việc tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Thời tiết xấu sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc vận
chuyển sản phẩm đi tiêu thụ, chẳng hạn như mưa gây khó khăn cho xe vận tải
di chuyển. Thêm vào đó nó sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, không
đảm bảo yêu cầu của khách hàng, dẫn tới không thể tiêu thụ được.
Do vậy doanh nghiệp phải luôn chú tâm đầu tư nghiên cứu hệ thống
giao thông nối liền giữa vùng sản xuất và vùng tiêu thụ một cách thuận lợi, an
toàn. Từ đó hạn chế những tổn thất do điều kiện môi trường tự nhiên gây nên.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
11
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
2. Các nhân tố chủ quan.
2.1. Những nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
2.1.1. Chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm quyết định khả năng cạnh tranh và là vấn đề
sống còn của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm hàng hoá
phải có chất lượng cao. Khác với chế độ bao cấp hàng hoá hiếm hoi và tiêu
thụ sản phẩm theo nguyên tắc phân phối, nên hàng xấu, kém phẩm chất,
người tiêu dùng cũng đành ngậm ngùi.
Trong cơ chế thị trường khách hàng là "thượng đế", họ có quyền
lựa chọn trong hàng trăm sản phẩm để mua một sản phẩm tốt nhất. Vì vậy
chất lượng sản phẩm phải luôn đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng.
Hàng hoá chất lượng tốt sẽ tiêu thụ nhanh, thu được lợi nhuận cao. Hàng hoá
chất lượng kém sẽ bị ứ đọng, ế ẩm làm cho doanh nghiệp thua lỗ, phá sản. Có
thể nói: "Chỉ có chất lượng mới là lời quảng cáo tốt nhất cho sản phẩm của
doanh nghiệp" .
2.1.2. Giá cả sản phẩm.
Giá cả một sản phẩm là biểu hiện bằng tiền mà người bán dự tính
có thể nhận được từ người mua. Việc dự tính giá cả chỉ được coi là hợp lý và
đúng đắn khi đã xuất phát từ giá cả thị trường, đặc biệt là giá cả bình quân của
một hàng hoá trên từng loại thị trường trong và ngoài nước trong từng thời kỳ
kinh doanh.
Nếu giá cả được xác định một cách hợp lý và đúng đắn thì nó đem
lại cho doanh nghiệp nhiều tác dụng to lớn. Đặc biệt là giá cả thực hiện chức
năng gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm trên từng loại thị trường trong và
ngoài nước. Nó là đòn bẩy kinh tế quan trọng đối với doanh nghiệp và thị
trường. Vì giá cả cao hay thấp có ảnh hưởng quyết định tới khối lượng sản
phẩm tiêu thụ và lợi nhuận mà doanh nghiệp sẽ đạt được.
Do đó để hực iện mục tiêu kinh tế tổng hợp (lợi nhuận ) của doanh
nghiệp, vấn đề quan trọng đối với doanh nghiệp là phải có chính sách hợp lý.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
12
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
2.1.3. Phương thức thanh toán.
Việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp với khách hàng có thể
gồm nhiều phương thức thanh toán: Séc, tiền mặt, ngoại tệ, Mỗi phương
thức đều có mặt lợi và mặt hại của nó cho cả doanh nghiệp và khách hàng.
Vấn đề là phải chọn được một phương thức thanh toán sao cho đôi bên cùng
có lợi, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều hơn khi doanh
nghiệp có những phương thức thanh toán tiện lợi, nhanh chóng. Doanh nghiệp
cần đơn giản hoá thủ tục, điều kiện thanh toán tạo thuận lợi cho khách hàng
để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm.
2.1.4. Hệ thống phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp cần phải có hệ
thống phân phối sản phẩm của mình, bao gồm các cửa hàng bán trực tiếp, các
đại lý, hoặc cung cấp cho người bán lẻ.
Tất cả các phần tử nằm trong guồng máy tiêu thụ sản phẩm sẽ tạo
nên một hệ thống phân phối sản phẩm của doanh nghiệp, với mạng lưới phân
bố trên các đại bàn, các vùng thị trường doanh nghiệp tham gia kinh doanh.
Doanh nghiệp nếu tổ chức được hệ thống phân phối sản phẩm hợp
lý sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác tiêu thụ sản phẩm, ngược lại nếu tổ
chức không tốt sẽ gây hậu quả xấu đến công tác tiêu thụ, sản phẩm bị ứ đọng
sẽ gây tổn thất cho doanh nghiệp.
2.1.5. Uy tín của doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động sản suất kinh doanh sẽ tạo lập dần vị thế của
doanh nghiệp trên thị trường, uy tín của doanh nghiệp ngày càng được nâng
cao, tránh sự hoài nghi của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn hiệu quả của công tác
tiêu thụ sản phẩm. Nó được biểu hiện bằng sự trung thành của khách hàng đối
với sản phẩm của doanh nghiệp. Chiếm được lòng tin của khách hàng sẽ góp
phần quan trọng để đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
13
Lu ậ n v ă n t ố t nghi ệ p
2.2. Nhân tố thuộc về thị trường - khách hàng.
- Thị trường sản phẩm của doanh nghiệp.
Thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết sản xuất, gắn
liền sản xuất với tiêu dùng, liên kết kinh tế thành một thể thống nhất, gắn liền
kinh tế trong nước với kinh tế thế giới. Thị trường là môi trường kinh doanh ở
đó cung cầu gặp nhau và tác động qua lại lẫn nhau để đạt tới vị trí cân bằng.
Thị trường sản phẩm hay người tiêu dùng sẽ quyết định doanh nghiệp sản
xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cho ai. Thị trường là đối tượng của các
hoạt động tiêu thụ, nó có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả tiêu thụ sản
phẩm.
Trên thị trường cung cầu hàng hoá nào đó có thể biến đổi lên xuống
do nhiều nguyên nhân làm cho giá cả sản phẩm cũng biến đổi và ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu cung nhỏ
hơn cầu thì giá cả cao hơn và ngược lại. Việc cung ứng vừa đủ để thoả mãn
nhu cầu về một loại hàng hoá trong một thời điểm nhất định là trạng thái cân
bằng cung cầu.
-Thị hiếu của khách hàng.
Đây là nhân tố mà các nhà sản xuất đặc biệt quan tâm không chỉ
trong khâu định giá bán sản phẩm mà cả khi xây dựng chiến lược kinh doanh,
quyết định phương án sản phẩm để đảm bảo tiêu thụ sản phẩm nhanh và có lãi
suất cao. Sản phẩm sản xuất ra là để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng,
nếu sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu thì khách hàng lựa chọn
sản phẩm của doanh nghiệp đó. Đây là một yếu tố quyết định mạnh mẽ.
Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt trong công tác tiếp thị
để tìm kiếm những phần thị trường mới nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp.
Sinh viên: Đỗ Thị Minh Nhâm - Lớp QLKT 39B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét