Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế tại Công ty du lịch và tư vấn đầu tư quốc tế

* Dới góc độ khách du lịch:
- Theo nhà kinh tế học ngời áo Rozep Stander cho rằng khách du lịch là
loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi c trú thờng xuyên để thoả mãn sinh hoạt
cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế.
* Dới góc độ nhà kinh doanh du lịch:
Du lịch đợc hiểu là việc sản xuất bán và trao cho khách các dịch vụ và hàng
hoá nhằm đảm bảo việc đi lại, lu trú, ăn uống, giải trí, thông tin đem lại lợi ích
kinh tế cho quốc gia và các tổ chức kinh doanh đó.
ở Việt Nam, khái niệm du lịch đợc nêu trong pháp lệnh du lịch nh sau:
"Du lịch là hoạt động của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của mình
nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ dỡng trong một khoảng thời
gian nhất định"
2. Khái niệm về du lịch quốc tế:
Các định nghĩa về du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng đã và đang
gặp phải những khó khăn nhất định. Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa
của nhiều tác giả khác nhau.
Theo định của hội nghị ở Rôma do liên hiệp quốc tổ chức về các vấn đề của
du lịch quốc tế năm 1963: Khách du lịch quốc tế là những ngời lu lại tạm thời ở
nớc ngoài và sống ngoài nơi c trú thờng xuyên của họ trong thời gian 24h hoặc
hơn.
Định nghĩa trên mắc phải sai lầm đó là không đánh giá đúng mức độ ảnh h-
ởng hay phụ thuộc giữa các ngành với nhau trong du lịch. Định nghĩa vẫn cha
giới hạn đầy đủ đặc trng về lĩnh vực của các hiện tợng và các mối quan hệ kinh
tế du lịch (các mối quan hệ thuộc loại nào: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá).
Ngoài ra, định nghĩa cũng bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung
gian nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hoá dịch vụ đáp ứng
nhu cầu khách du lịch.
Xuất phát từ những thực tế đó, chúng ta chỉ có thể nhìn nhận du lịch quốc tế
nh sau: Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến
5
của cuộc hành trình nằm ở các quốc gia khác nhau. ở hình thức này khách phải
vợt qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Từ cách nhìn nhận trên chúng
ta có thể thấy rằng du lịch quốc tế là những hình thức du lịch có dính dáng tới
yếu tố nớc ngoài, điểm đi và điểm đến của hành trình ở các quốc gia khác nhau,
khách du lịch sử dụng ngoại tệ của nớc mình đem tới nớc du lịch để chi tiêu cho
nhu cầu du lịch của mình.
3. Phân loại du lịch quốc tế.
Du lịch quốc tế đợc chia làm hai loại: Du lịch quốc tế chủ động và du lịch
quốc tế bị động.
+ Du lịch quốc tế chủ động là hình thức du lịch của khách ngoại quốc đến
một đất nớc nào đó, ví dụ đến Việt Nam và tiêu tiền kiếm đợc từ đất nớc của họ.
+ Du lịch quốc tế bị động là hình thức du lịch có trong trờng hợp các công
dân Việt Nam đi ra ngoài biên giới nớc ta và trong chuyến đi ấy, họ tiêu tiền
kiếm đợc ở Việt Nam.
Xét trên phơng diện kinh tế, du lịch quốc tế chủ động gần giống hoạt động
xuất khẩu vì nó làm tăng thu nhập ngoai tệ cho đất nớc du lịch. Khách du lịch
quốc tế đến Việt Nam đổi ra bản tệ để chi tiêu số tiền chi tiêu ở nơi du lịch đẩy
mạnh cán cân thanh toán của Việt Nam. Đối với hình thức du lịch quốc tế bị
động, loại du lịch này tơng tự nh nhập khẩu hàng hoá vì nó liên quan tới chi
ngoại tệ.
Xét trên phơng tiện văn hoá xã hội: Khách du lịch quốc tế có cơ hội tìm
hiểu các phong tục tập quán, hệ thống văn hoá, pháp luật của nớc sở tại, đồng
thời chịu sự chi phối của hệ thống chính trị, văn hoá, kinh tế cũng nh pháp luật
của nớc đó. Điều này có nghĩa là khi đó du lịch tại một quốc gia khác, khách du
lịch phải tuân theo qui định về luật pháp, văn hoá, xã hội, của quốc gia đó.
Nguyên tắc trao đổi văn hoá và kinh tế trên cơ sở này sẽ có ảnh hởng tích
cực tới sự phát triển của du lịch quốc tế chủ động cũng nh du lịch quốc tế bị
động, tuy nhiên mỗi đất nớc tuỳ thuộc vào khả năng của mình mà có những định
hớng phát triển cho phù hợp.
6
4. Vai trò của du lịch quốc tế.
Ngành du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế của đất nớc, của vùng
hoặc của một nơi riêng biệt thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch. Do vậy,
để nhận rõ đợc vai trò của du lịch quốc tế đối với quá trình tái sản xuất xã hội
cần hiểu rõ những đạc điểm tiêu dùng du lịch. Những đặc điểm quan trong nhất
là:
+ Nhu cầu tiêu dùng trong du lịch là những nhu cầu đặc biệt bao gồm: Nhu
cầu hiểu biết kho tàng văn hoá, lịch sử, nhu cầu vãn cảnh thiên nhiên, nhu cầu
khám phá những điều mới lạ.
+ Tiêu dùng du lịch thoả mãn các nhu cầu hàng hoá (thức ăn, hàng hoá mua
sắm, hàng lu niệm ) và đặc biệt là các nhu cầu về dịch vụ nơi ở, vận chuyển
hành khách, y tế, thông tin
+ Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hoá diễn ra đồng thời với việc
sản xuất ra chúng. Trong du lịch không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hoá đến
cho khách và ngợc lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có hàng hoá.
+ Việc tiêu dùng du lịch chỉ thoả mãn những nhu cầu thứ yếu đối với con
ngời (với ngoại tệ ở thể loại du lịch giữa khi đó du lịch có ý nghĩa sống còn đối
với ngời bệnh)
+ Tiêu dùng du lịch thờng xảy ra theo thời.
Qua những đặc điểm tiêu dùng ở trên, ta có thể thấy vai trò của kinh doanh
du lịch quốc tế nh sau:
4.1 Du lịch quốc tế tạo nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nớc.
Thật vậy, năm 1998, Mêhico đã thu đợc 7,8 tỷ USD, đứng thứ 2 về thu nhập
của cả nớc, đứng thứ 14 thế giới về thu nhập từ du lịch. Ngoại tệ thu đợc từ du
lịch quốc tế góp phần cải thiện cán cân thanh toán của đất nớc và thờng đợc sử
dụng để mua sắm thiết bị máy móc cần thiết cho quá trình tái sản xuất xã hội.
Do vậy, du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng thu
nhập quốc dân.
4.2 Tạo điều kiện cho đất nớc phát triển du lịch.
Cũng nh ngoại thơng, du lịch quốc tế tạo điều kiện cho đất nớc phát triển du
lịch, tiết kiệm lao động xã hội khi xuất khẩu một số mặt hàng. Nhng xuất khẩu
7
theo đờng du lịch quốc tế có lợi hơn nhiều so với xuất khẩu ngoại thơng. Trớc
hết, một phần rất lớn đối tợng mua bán quốc tế là các dịch vụ (lu trữ, bổ sung,
trung gian ) Do vậy, xuất khẩu của du lịch quốc tế còn là hàng ăn uống, hoa
quả, rau xanh, hàng lu niệm. Nh vậy, xuất khẩu qua du lịch quốc tế là "Xuất
khẩu tại chỗ" hàng hoá, dịch vụ, những hàng hoá không thể hay khó xuất khẩu đ-
ợc con đờng ngoại thơng thông thờng, mà nếu muốn xuất khẩu chúng thì phải
đầu t nhiều chi phí cho việc đóng gói, bảo quản và vận chuyển mà giá cả lại thấp
hơn.
Việc xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế luôn đảm bảo thực hiên doanh thu
lớn hơn nếu cùng xuất khẩu những hàng hoá đó theo đờng ngoại thơng vì hàng
hoá xuất khẩu theo đờng du lịch quốc tế theo giá bán lẻ còn nếu xuất khẩu hàng
hoá đó bằng con đờng ngoại thơng thì giá này là giá bán buôn.
Xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế không tốn chi phí vận chuyển quốc tế,
tốn ít chi phí đóng gói và bảo quản hơn xuất khẩu ngoại thơng vì nó đợc vận
chuyển trong phạm vị đất nớc du lịch. Bên cạnh đó, xuất khẩu theo đờng kinh
doanh du lịch quốc tế không phải tốn chi phí trong hoạt động xuất khẩu do trả
thuế xuất khẩu cũng nh tốn các chi phí về bảo hiểm.
4.3 Tiết kiệm thời gian và tăng vòng quay của vốn đầu t:
Do đặc điểm của tiêu dùng du lịch là: Khách hàng phải tự vận động đến nơi
có hàng hoá và dịch vụ chứ không phải vận chuyển hàng hoá đến với khách nên
tiết kiệm đợc thời gian làm tăng nhanh vòng quay của vốn đầu t, do đó thu hồi
vốn nhanh và có hiệu quả. Ngoài ra khi thu hồi vốn đầu t vào du lịch quốc tế
thực chất đã "Xuất khẩu" đợc nguyên vật liệu và lao động. Nguyên vật liệu ở đây
thờng không phải là đối tợng xuất khẩu theo đờng ngoại thơng.
4.4 Du lịch quốc tế là phơng tiện quảng cáo không mất tiền cho đất nớc
du lịch chủ nhà.
Khi khách tới khu du lịch, khách có điều kiện làm quen với một số mặt
hàng ở đó, khi trở về khách có thể yêu cầu cơ quan ngoại thơng nhập khẩu mặt
hàng đó về quốc gia của mình. Theo cách này, du lịch quốc tế góp phần tuyên
truyền cho nền sản xuất của nớc du lịch chủ nhà.
8
4.5 Mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế.
Sự phát triển của du lịch quốc tế có ý nghĩa quan trong đến việc mở rộng
và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Các mối quan hệ này chủ yếu theo
các hớng: Ký kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nớc tổ chức và hãng du lịch;
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vay vốn phát triển du lịch; hợp tác trong lĩnh vực
cải tiến các mối quan hệ tiền tệ trong du lịch quốc tế.
Bên cạnh đó, du lịch quốc tế góp phần thúc đẩy các quốc gia bảo tồn các di
sản văn hoá dân tộc, bảo vệ và phát triển môi trờng thiên nhiên-xã hội. Du lịch
quốc tế cũng kích thích các ngành nghề khác phát triển nh: Giao thông vận tải,
thông tin liên lạc, khách sạn, y tế, xây dựng. Du lịch quốc tế có vai trò quan
trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc tế cho các dân tộc, làm cho mọi ngời
thấy đợc sự cần thiết phải phát triển và củng cố các nối quan hệ quốc tế. Du lịch
quốc tế góp phần làm cho các dân tộc gần gũi nhau hơn, bình thờng hoá quan hệ
quốc tế và tăng thêm phần hữu nghị giữa các dân tộc. Theo số liệu thống kê gần
đây của UNESCO thì 11% đầu t của thế giới dành cho du lịch, 10,9% sản phẩm
sản xuất ra là do ngành này, 10.7% số ngời lao động làm việc trong lĩnh vực
"Công nghiệp không khói" và 20% giao thông thơng mại thế giới phục vụ chu du
lịch. Điều đó càng khẳng định du lịch là nghành có vai trò quan trọng đối với sự
phát triển của nhiều quốc gia.
5. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động dulịch quốc tế.
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ đã
đóng vai trò quan trọng và ảnh hởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh doanh xã
hội của các nớc phát triển cũng nh các nớc đang phát triển. Năm 1970, dịch vụ
chiếm 55% tổng sản phẩm của các nớc phát triển và các nớc đang phát triển. Đến
năm 1990, tỉ trọng của dịch vụ đã tăng lên tới 65%, trong đó phần lớn là sự tăng
trởng của các ngành tham gia vào thơng mại quốc tế. Chính vì vậy, việc xác định
các yếu tố ảnh hởng đến lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quốc tế nói chung và kinh
doanh du lịch quốc tế nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp khắc
phục, hạn chế những tác động xấu đến lĩnh vực kinh doanh du lịch quốc tế, đồng
thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này. Có thể liệt kê một vài yếu
tố ảnh hởng tới kinh doanh du lịch quốc tế :
9
Sự tăng cầu về du lịch của ngời tiêu dùng (do thu nhập tăng).
Sự tăng cầu của các hãng về du lịch.
Khả năng cung ứng của các nhà cung cấp du lịch.
Giá cả và chất lợng dịch vụ du lịch.
Việc thiểu hóa và việc bảo tồn nguyên vật liệu cũng là một nguyên nhân
khiến cho tỉ trọng ngành du lịch tăng lên biểu hiện ở đầu ra công nghiệp.
Thay đổi kỹ thuật đã nuôi dỡng khả năng tồn tại và khả năng tiếp xúc với
nhau của các hãng kinh doanh du lịch cách xa trên thế giới.
Sự phát triển của các Công ty đa quốc gia.
Việc xoá bỏ các hàng rào chắn, các quy định cũng tạo ra điều kiện cho ngành
du lịch phát triển ở tầm cỡ quốc tế.
Sự can thiệp của chính phủ.
Có thể nói, đến lợt mình, thơng mại lại trở thành chìa khóa cho sự phát triển
ngành du lịch trên phạm vi quốc tế. ảnh hởng của các yếu tố trên tới kinh doanh
du lịch quốc tế biểu hiện nh sau :
Việc tiêu chuẩn các dịch vụ du lịch đợc cung cấp.
Các cơ hội cho việc đặc thù hóa các dịch vụ du lịch đợc cải tạo, chẳng hạn
thông qua việc ký kết hợp đồng với một hãng lập trình nớc ngoài để thiết kế
hệ thống kế toán đặc thù.
Cuộc cách mạng thông tin là trung tâm của toàn bộ quá trình, cụ thể là dới
dạng máy tính hóa và việc trao đổi thông tin qua mạng. Sự đổi mới kỹ thuật
trong lĩnh vực máy tính và sự truyền bá nhanh chóng của nó đã và đang
cách mạng hóa tốc độ và khối lợng của chuyển đổi thông tin nhiều lần
trong cùng một thế hệ.
Các dịch vụ kinh doanh du lịch đòi hỏi sự gặp mặt trực tiếp giữa ngời mua
và ngời bán ngày càng giảm. Sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống thông tin và
mạng lới liên lạc, sự hoạt động của các dịch vụ không còn phụ thuộc vào sự có
mặt mang tính địa lý của nó nữa. Các Công ty đa quốc gia có thể bán các dịch vụ
10
mà không cần đầu t trực tiếp, tuy nhiên đầu t trực tiếp và sản lợng tiêu thụ các
dịch vụ qua các thực thể của họ dờng nh là một phơng thức đợc a chuộng.
Mặc dù các rào chắn kỹ thuật và chính sách đang giảm đối với các dịch vụ
song trên thực tế, với số lợng và các hình thức của các rào chắn dịch vụ nh hiện
này thì các rào chắn dịch vụ vẫn còn cao hơn nhiều so với các rào chắn hàng hóa
thông thờng khác. Các rào chắn này tồn tại dới dạng nh :
Kiểm soát trực tiếp di chuyển dịch vụ du lịch qua biên giới.
Hạn chế các dự án đầu t liên quan đến dịch vụ du lịch.
Không khuyến khích thơng mại thông qua các thủ tục hành chính, thuế
khóa và các tiêu chuẩn sở hữu. Cả hai đối tợng là các hãng cung cấp dịch
vụ và các khách hàng tiềm năng đều đòi hỏi việc xóa bỏ các hàng rào này.
Sự không khuyến khích của chính phủ đối với việc cung cấp và tiêu thụ
các sản phẩm du lịch quốc tế.
Các trở ngại đối với việc kinh doanh du lịch ở nớc ngoài gồm hai hình thức
cơ bản : Các hàng rào hạn chế xâm nhập và những khó khăn của việc cung cấp
dịch vụ ở nớc ngoài. Các hàng rào hạn chế xâm nhập thờng đợc xem là yếu tố để
đảm bảo an ninh quốc gia, an ninh kinh tế. Chính phủ thờng đa ra các biện pháp,
chính sách để bảo hộ mạnh mẽ đối với hoạt động dịch vụ trong nớc. Các quy
định bắt buộc các nhà cung cấp dịch vụ nớc ngoài phải bỏ ra một khoản chi phí
lớn hơn so với các nhà cạnh tranh nội địa, không cho phép tự do cạnh tranh trong
một số lĩnh vực dịch vụ
Nh bất cứ một loại hình kinh doanh, một lĩnh vực kinh doanh nào khác, lĩnh
vực kinh doanh du lịch cũng chịu sự tác động, sự chi phối của môi trờng kinh
doanh du lịch quốc tế. Mỗi một quốc gia, mỗi một khu vực đều có những đặc tr-
ng khác nhau về môi trờng kinh doanh. Mỗi quốc gia có một môi trờng luật
pháp, môi trờng kinh tế, môi trờng chính trị, môi trờng văn hóa, môi trờng cạnh
tranh khác nhau. Mặt khác các nhân tố, các điều kiện của môi trờng kinh doanh
cũng rất phong phú, đa dạng và luôn biến đổi khá phức tạp. Sự thay đổi đó có
ảnh hởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế. Nó đòi hỏi các
nhà kinh doanh du lịch quốc tế phải nắm vững đợc các đặc điểm, sự thay đổi của
11
các yếu tố thuộc môi trờng kinh doanh nhằm có biện pháp, hớng đi thích hợp để
nâng cao hiệu quả, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh du lịch của mình.
6. Kinh nghiệm phát triển hoạt động du lịch quốc tế cua một số nớc trên thế
giới.
6.1. Đặc điểm thị trờng du lịch quốc tế.
Thị trờng du lịch là một bộ phận cấu thành đặc biệt của thị trờng hàng hoá
bao gồm toàn bộ những mối quan hệ và cơ chế kinh tế có liên quan tới thì gian,
điều kiện và phạm vi thực hiện dịch vụ và đáp ứng các nhu cầu xã hội về du lịch.
Nói đến thị trờng du lịch quốc tế là nói đến sản xuất trao đổi sản phẩm, dịch
vụ du lịch, là đối thoại giữa ngời sản xuất và ngời tiêu dùng trong đó ngời tiêu
dùng đợc thoả mãn nhu caàu của mình về các sản phẩm hay dịch vụ du lịch, còn
ngời sản xuất thông qua tiếp xúc với khách hàng mà định hớng hoạt động kinh
doanh của mình sao cho thu đợc hiệu quả kinh tế tối đa. Nói một cách chi tiết và
đầy đủ hơn thì thị trờng du lịch quốc tế là lĩnh vực cụ thể trong lu thông hàng
hoá, dịch vụ du lịch, là tổng hợp các điều kiện thực hiện các sản phẩm hàng hoá
đó về kinh tế (gồm các yếu tố nhờ cung cấp giá cả ) kỹ thuật và tâm lý xã hội.
Mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định trong việc cấu thành thị trờng du lịch. Thị tr-
ờng du lịch quốc tế mang tính độc lập tơng đối so với thị trờng hàng hoá nói
chung vì nó thực hiện dịch vụ hàng hoá của ngành du lịch.
Do sản phẩm của du lịch quốc tế không thể vận chuyển từ nơi này đến nới
khác nên trên thị trờng không có sự chuyển dịch của hàng hoá khách du lịch
muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch phải tới nơi có sản phẩm, một số hàng hoá cảu
tiêu dùng và sẩn xuất chúng diễn ra đồng thời tại một địa điểm.
Thị trờng du lịch quốc tế cũng nh các thị trờng hàng hoá thông thờng đều
chịu sự chi phối của cácqui luật kinh tế nh qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh,
qui luật giá cả, nhng do có những đặc điểm riêng biệt nên thị trờng du lịch xuất
hiện muộn hơn so với các thị trờng hàng hoá khác. Thị trờng du lịch là tập hợp
của cung, cầu về sản phẩm du lịch (trong đó chủ yếu là dịch vụ) và các mối quan
hệ để xác định giá cả giữa chúng.
12
Một đặc điểm tiếp theo của thị trờng du lịch quốc tế đó là thị trờng du lịch
quốc tế chịu sự tác động của các điều kiện về kinh tế, điều kiện về giao thông,
không khí hoà bình ổn định trong nớc độ an toàn đối với khách. Tính ổn định của
thị trờng du lịch bị ảnh hởng rất lớn bới các điều kiện trên. Cụ thể là do ảnh hởng
của cuộc khủng hoảng châu á gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nớc châu á đã
làm cho ngời ta ít đi du lịch nớc ngoài hơn. Ngời châu Âu chỉ thích đi du lịch
các nớc trong châu Âu và ngời châu á không muốn đi du lịch ở các nớc ngoài
châu á với lý do tiết kiệm chi phí. Ngời Mỹ sẽ ít đi du lịch ở các nớc đạo hồi
hơn vì lo ngại tình trạng khủng bố của phong trào Hồi giáo quá khích. Vì lý do
đó thị trờng du lịch Mỹ la tinh và vùng Caribe sẽ đợc lời nhờ thu hút đợc du
khách Hoa Kỳ đến thăm do sự thuận tiện về mặt địa lý, tơng đồng với văn hoá
Mỹ và tình hình chính trị khá ổn định.
6.2. Kinh nghiệm phát triển hoạt động du lịch quốc tế của một số nớc
trên thế giới.
Du lịch đợc ngời ta ví nh một ngành công nghiệp không khói. Ngành du
lịch đã và đang góp phần tích cực trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia.
Ngành du lịch góp phần tăng thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy nhiều
ngành kinh tế khác cùng phát triển Chúng ta có thể tổng hợp một số kinh
nghiệm quản lý, kinh doanh du lịch ở một số nớc nh sau:
1. Coi trọng chiến lợc, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du
lịch.
Kinh nghiệm của "Cờng quốc" Du lịch trên thế giới cho thấy, muốn phát
triển du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu thì phải đặt nó
trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chiến lợc u tiên phát
triển du lịch này phải thông qua một hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ nhằm
huy động mọi nguồn lực để thực hiện, đa du lịch phát triển với tốc độ cao và
vững chắc. Hệ thống cơ chế chính sách phải xuất phát từ những đặc trng của du
lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao,
mang tính toàn cầu hoá, khu vực hoá. Du lịch càng phát triển thì tính chất xã hội
hoá của nó càng cao, sự liên ngành và phạm vi hoạt động cuả nó càng rộng rãi.
13
Ngoài ra, cơ chế và các chính sách phát triển du lịch phải thích ứng với điều kiện
lịch sử, tận dụng đợc thời cơ và vận hội ở từng thời điểm.
Trong hệ thống chính sách thì chính sách ổn định chính trị ,kinh tế trong n-
ớc là chính sách cơ bản, quyết định hàng đầu cho việc phát triển du lịch. Chẳng
hạn ở ấn Độ, sự thất bại của "Năm du lịch ấn Độ 1991" trớc hết là do bất ổn
định của tình hình chính trị và kinh tế trong nớc với sự kiện thủ tớng Rajiv
Gandhi bị ám sát, tiếp đến xung đột phe phái, tình trạng lộn xộn ở một số bang,
thêm vào đó là hạ tầng cơ sở yếu kém đa đến hậu quả là số khách quốc tế tới
thăm giảm 30% so với năm trớc.
Thờng thì ở các nớc có du lịch phát triển, ngành du lịch đợc hình thành trên
cơ sở tận dụng đợc những lợi thế so sánh, nhng thời gian đầu sức mạnh của nó
thể hiện nhiều ở xu thế phát triển chứ cha ở thực lực. Trên cơ sở xác định nh vậy,
các nớc này có sự u tiên để thúc đẩy du lịch phát triển tạo thế cho ngành du lịch,
sau khi đạt đến độ phát triển nhất định, nó sẽ mang lại tăng trởng kinh tế nhanh,
hiệu quả chính trị, văn hoá xã hội cũng phát triển. Du lịch muốn phát triển phải
dựa trên cơ sở nguồn tài nguyên du lịch. Song nguồn tài nguyên ấy, lúc đầu tồn
tại phần nhiều ở dạng tiềm nămg. Muốn tiềm năng du lịch biến thành khả năng,
thành sản phẩm du lịch, nhất thiết phải có sự u tiên đầu t cho nó, bao gồm: đầu t
xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu t đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực du lịch, u tiên cho việc chuyên môn hoá, hiện đại hoá
trong ngành du lịch Đây là những nội dung cơ bản trong việc u tiên phát triển
ngành du lịch hiện nay.
Tổ chức Du lịch Thế giới, trong một báo năm 1987, đã nhận xét: Kinh tế du
lịch ở một số nớc phát triển mạnh, không phải là sự ngẫu nhiên, đột xuất mà do
nhà nớc đã quan tâm, đặt ra mục tiêu đa Du lịch thành một ngành kinh tế quan
trọng trong quốc sách của mình.
Nớc Pháp đã trở thành một trong những điểm du lịch số 1 trên thế giới, năm
1996 thu hút 61,5 triệu lợt khách nớc ngoài đến du lịch, phục vụ 230 triệu lợt
ngời Pháp đi du lịch các vùng trong nớc, tổng thu nhập du lịch chiếm 10% GDP
cả nớc; du lịch nớc Pháp đã tạo ra 2 triệu việc làm cho xã hội. Sở dĩ nớc Pháp đạt
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét