Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

49 Quản trị kinh doanh ở Công ty TNHH xây dựng Tuấn Hải - Thực trạng và giải pháp 

Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Xác định đúng mục đích và hướng đi là yếu tố cơ bản quan trọng bảo đảm
thành công trong kinh doanh với chi phí và nguồn lực nhỏ nhất. Nếu xác định sai sẽ
dẫn đến chệch hướng, lãng phí thời gian, tiền của mà không đạt được mục đích trong
kinh doanh. Nhận thức đúng mục đích và hướng đi giúp nhà quản trị và nhân viên
nắm vững những việc cần phải làm, khuyến khích họ làm tốt phần việc của mình
trong ngắn hạn, làm cơ sở cho thực hiện tốt những mục tiêu dài hạn của doanh
nghiệp.
- Trong điều kiện kinh doanh biến đổi nhanh chóng, tạo ra muôn vàn cơ hội
tìm kiếm lợi nhuận nhưng cũng đầy cạm bẫy rủi ro. Có chiến lược sẽ gúp doanh
nghiệp chủ động tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh khi chúng vừa xuất hiện đồng
thời giảm bớt rủi ro trên thương trường.
Quản trị kinh doanh theo chiến lược buộc các nhà quản trị phải phân tích, dự
báo các điều kiện của môi trường kinh doanh trong tương lai gần cũng như xa, từ đó
tập trung vào những cơ hội tốt nhất đồng thời đề phòng những rủi ro xấu nhất.
- Nhờ vận dụng chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ gắn liền các
quyết định đề ra với các điều kiện của môi trường, giúp cân đối giữa một bên là tài
nguyên, nguồn lực và mục tiêu của doanh nghiệp với bên kia là các cơ hội thị trường
bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu đề ra.
Các doanh nghiệp không vận dụng quản trị chiến lược thường đưa ra các
quyết định thụ động sau các diễn biến của thị trường. Nói cách khác có chiến lược
các doanh nghiệp sẽ được chuẩn bị tốt hơn để chủ động đối phó với thay đổi của môi
trường kinh doanh.
- Trong môi trường cạnh tranh gây gắt, thông qua phân tích toàn diện đầy đủ
các yuế tố của môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp xác định đối thủ cạnh tranh ,
trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tổng thể nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
Tuy nhiên chiến lược kinh doanh không phải là phương thuốc tổng hợp chữa
được bách bệnh mà cũng có những mựt hạn chế sau:
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
+ Mất nhiều thời gian và chi phí để xây dựng và thực hiện quản trị kinh doanh
theo chiến lược, tuy nhiên với doanh nghiệp có kinh nghiệp có kinh nghiệm sẽ tiết
kiệm được thời gian và công sức, hơn nũa doanh nghiệp sẽ thu được nhiều ích lợi
hơn khi vận dụng.
+ Tính đúng đắn của chiến lược kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào dự báo
dài hạn về môi trường kinh doanh, nếu những dự báo có sai sót sẽ hạn chế đến kết
quả kinh doanh.
+ Sau khi hoạch định chiến lược kinh doanh nếu không kịp thời thay đổi,
chiến lược sẽ trở thành cái “khung cứng nhắc”trói buộc doanh nghiệp. Cần phải nhớ
rằng quản trị chiến lược mang tính năng động theo sự thay đổi của môi trường.
+ Nếu doanh nghiệp chỉ chú ý đến hoạch định mà không chú ý đến thực hiện
sẽ là sai lầm, bản chất của quản trị chiến lược là hoạt động, chỉ có thực hiện mới đem
lại thành công trong kinh doanh.
1.2- NỘI DUNG QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP XÂY
DỰNG.
Để đảm bảo thành công trong hoạt động kinh doanh, ban lãnh đạo của
doanh nghiệp xây dựng ngoài việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tổ chức bộ máy,
hoàn thiện các chức năng quản lý còn phải chỉ đạo thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy quản trị các nghiệp vụ kinh doanh có ý nghĩa quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đó là các hoạt động nghiệp vụ.
1.2.1.Quản trị hoạt động thương mại.
Quản trị hoạt động thương mại chính là quá trình quản trị việc mua sắm vật tư
kỹ thuật cho sản xuất
Quản trị mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất.
Quản trị mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất gồm có những nội dung sau:
Bao gồm tất cả các hoạt động nhằm kiểm soát quá trình vận động của các luồng vật
tư, dịch vụ trong các chu kỳ kinh doanh, từ việc xác định nhu cầu vật tư, xây dựng
các kế hoạch nguồn hàng, tổ chức mua sắm đến tổ chức quản lý dự trữ, cấp phát,
quyết toán sử dụng và phân tích đánh giá quá trình quản lý vật tư.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Quá trình quản trị mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất được khái quát qua
mô hình sau:
1.2.2.Quản trị hoạt động dự trữ - vận chuyển.
1.2.2.1. Khái quát về dự trữ hàng hoá.
Trong nền kinh tế thị trường, người ta thường quan niệm dự trữ hàng hoá là
“những hàng hoá hiện được giữ lại để sản xuất hay tiêu duàng sau này”. Dự trữ hàng
hoá được hình thành ở các doanh nghiệp là do đòi hỏi tất yếu của việc đảm bảo tính
liên tục của quá trình sản xuất – kinh doanh. Dự trữ hàng hoá đảm bảo cho vòng tròn
trao đổi kinh tế trong hệ thống thị trường vận động thường xuyên và liên tục.
Đối với dự trữ sản xuất, việc quy điạnh đúng đắn mức dự trữ có một ý nghĩa
rất lớn, nó cho phép giảm các chi phí về bảo quản hàng hoá, giảm hao hụt mất mát,
bảo đảm cho các doanh nghiệp có đủ những vật ty hàng hoá cần thiết trong sản xuất
để thực hiện các nhiệm vụ đề ra, ngăn ngừa việc hình thành quá mức dự trữ, làm ảnh
hưởng tốc độ chu chuyển vốn, phát hiện và có các biện pháp giải quyết những hàng
hoá ứ đọng ở các doanh nghiệp.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Phân tích đánh
giá quá trình
quản lý.
Xác định nhu
cầu.
Xây dựng kế
hoạch yêu
cầu vật
Xác định các
phương thức
đảm bảo vật tư.
Lập và tổ
chức thực
hiện kế
hoạch mua
sắm vật tư.
Tổ chức
quản lý vật
tư nội bộ.
Quản lý dự
trữ và bảo
quản.
Cấp phát vật
tư nội bộ.
Quyết toán
vật tư.
Lựa chọn
người cung
ứng.
Thương
lượng và
đạt hàng.
Theo dõi đạt
hàng và tiếp
nhận vật tư.
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Trong quá trình kinh doanh các yếu tố sản xuất, dự trữ có một vai trò to lớn. Ở
đây, dự trữ sản xuát căn cứ để:
Xác định nhu cầu các loại hàng hoá, lượng đặt hàng và tính toán khối lượng
hàng hoá nhập về trong các kế hoạch kinh doanh. Muốn vậy, trong quá trình xây
dựng kế hoạch kinh doanh phải tính toán cho doanh nghiệp hàng hoá dự trữ cuối kỳ
và đầu kỳ.
Điều chỉnh lượng hàng hoá nhập trong quá trình hoạt động kinh doanh và
kiểm tra thực tế dự trữ hàng hoá ở các kho hàng.
Xác định mức vốn lưu động đầu tư vào dự trữ sản xuất. Để làm việc này
người ta thường quy định mức dự trữ sản xuất bình quân.
Tính toán nhu cầu về diện tích kho hàng cần thiết cho các doanh nghiệp để
bảo quản số lượng và chất lượng hàng hoá dự trữ. Việc tính toán diện tích kho hàng
dựa trên cơ sở mức dự trữ sản xuất tối đa.
1.2.2.2. Dự trữ sản xuất.
Tất cả vật tư hiện có ở doanh nghiệp sản xuất đang chờ đợi để bước vào tiêu
dùng sản xuất, gọi là dự trữ sản xuất.
Dự trữ sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố như sản xuất, cung ứng,
vận chuyển và tiêu dùng vật tư. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến lượng dự trữ sản
xuất là:
Lượng vật tư tiêu dùng bình quân trong một ngày đêm của doanh nghiệp.
Lượng này lại phù thuộc vào qui mô sản xuất, mức độ chuyên môn hoá sản xuất của
doanh nghiệp và phụ thuộc vào định mức tiêu hao nguyên vật liệu.
Mức xuất hàng tối thiểu một lần của doanh nghiệp thương mại, mức này càng
thấp càng có khả năng nhận vận tư được nhiều lần và do đó lượng dự trữ càng ít.
Trọng tải, tốc độ của phương tiện vận tải.
Chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp thương mại, cung ứng đầy đủ, kịp thời,
đồng bộ và chính xác, không những chỉ là điều kiện bảo đảm cho sản xuất tiến hành
được tốt mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đại lượng dự trữ sản xuất.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Định kỳ sản xuất vật tư của doanh nghiệp sản xuất. Có những chủng loại, quy
cách vật tư, doanh nghiệp sản xuất chỉ sản xuất vào những kỳ hạn nhất định.
Tính chất thời vụ của sản xuất, vận tải và tiêu duàng vật tư.
Thuộc tính tự nhiên của các loại vật tư. Có những loại vật tư mà thời gian dự
trữ lại do thuộc tính tự nhiên của chúng quyết định.
Dự trữ sản xuất gồm có 3 bộ phận: Dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm và
dự trữ chuẩn bị.
Tính thời vụ của sản xuất, tiêu duàng và vận chuyển vật tư đòi hỏi phải có dự
trữ thời vụ ở tất cả các giai đoạn tuần hoàn của vật tư. Đặc điểm và tính chất ảnh
hưởng của những điều kiện thời vụ dẫn đến sự cần thiết phải gia tăng các loại dự trữ.
1.2.2.3.Định mức dự trữ sản xuất.
Định mức dự trữ sản xuất là sự quy định đại lượng vật tư tối thiểu phải có
theo kế hoạch ở doanh nghiệp để bảo đảm cho quá trình sản xuất của các đơn vị tiêu
dùng tiến hành được liên tục và điều đặn.
Khi tiến hành định mức dự trữ sản xuất cần phải quán triệt một số quy tắc:
Quy tắc thứ nhất là xác định đại lượng tối thiểu cần thiết, có nghĩa là đại
lượng dự trữ phải đủ bảo đảm cho quá trình sản xuát của doanh nghiệp khỏi bị gián
đoạn trong mọi tình huống, đồng thời tránh dự trữ nhiều sinh ra ứ đọng vật tư làm
chậm tốc độ lưu chuyển của vốn.
Quy tắc thứ hai của định mức dự trữ sản xuất là xác định đại lượng dự trữ,
trên cơ sở tính toán tất cả những nhân tố ảnh hưởng trong kỳ kế hoạch.
Quy tắc thứ ba của định mức dự trữ sản xuất là tiến hành định mức từ cụ thể
đến tổng hợp.
Quy tắc thứ tư của định mức dự trữ là quy định đại lượng dự trữ sản xuất tối
đa và đại lượng dự trữ tối thiểu đối với mỗi tên gọi cụ thể. Đại lượng dự trữ sản xuất
tối đa bằng dự trữ chuẩn bị cộng dự trữ bảo hiểm cộng dự trữ thường xuyên tối đa.
Đại lượng dự trữ sản xuất tối thiểu bằng tổng dự trữ chuẩn bị và dự trữ bảo hiểm.
1.2.2.4.Theo dõi và điều chỉnh dự trữ ở doanh nghiệp xây dựng.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Tính quy luật của dự trữ hàng hoá là cùng với sự phát triển cảu sản xuất và
khoa học công nghệ, dự trữ tuyệt đối không ngừng được tăng lên và mức dự trữ
tương đối có xu hướng giảm xuống. Nguyên nhân của việc tăng dự trữ tuyệt đối là do
kết quả của việc gia tăng khối lượng vật tư hành hoá tiêu dùng trong quá trình sản
xuất. Còn kết quả của tiến bộ khoa học công nghệ trong vận chuyển hàng hoá, tăng
nhanh tốc độ chu chuyển tư liệu sản xuất, lại làm cho dự trữ tương đối giảm xuống.
Số lượng dự trữ tuyệt đối phụ thuộc trực tiếp vào mức tiêu dùng trong một
đơn vị thời gian. Mức tiêu dùng bình quân một ngày đêm lại phụ thuộc vào quy mô
sản xuất, loại hình doanh nghiệp, danh mục vật tư sử dụng…
1.2.3.Quản trị hoạt động bán hàng.
1.2.3.1. Khái niệm về quản trị bán hàng.
Quản trị bán hàng là hoạt động của người quản lý doanh nghiệp thông qua lập
kế hoạch, tổ chức và điều khiển hoạt động của lực lượng bán hàng nhằm thực hiện
mục tiêu bán hàng đề ra.
1.2.3.2. Xác định mục tiêu bán hàng của doanh nghiệp.
Mục tiêu bán hàng là những kết quả cụ thể về bán hàng mà doanh nghiệp
mong muốn đạt đến trong một thời kỳ nhất định. Đó là những kết quả, những kỳ
vọng mà các nhà quản trị mong muốn đạt được trong tương lai.
Xác định mục tiêu chính là cơ sở để xây dựng kế hoạch bán hàng khả thi, là
động lực thúc đẩy để mọi người trong doanh nghiệp nỗ lực thực hiện, là tiêu chuẩn
để đánh giá sự nỗ lực cố gắng và đánh giá thành tích của lực lượng bán hàng.
Mục tiêu bán hàng bao giờ cũng là khối lượng hàng bán, doanh số và doanh
thu, tốc độ phát triển thị phần, thị phần của doanh nghiệp, chi phí bán hàng và lợi
nhuận thu được từ hoạt động bán hàng. Bao gồm các mục tiêu tương đối và mục tiêu
tuyệt đối.
1.2.3.3. Lập kế hoạch bán hàng.
Để khỏi lạc hậu so với đối thủ cạnh tranh và đảm bảo tầm nhìn xa trông rộng
phải xây dựng lập kế hoạch bán hàng.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Kế hoạch bán hàng là văn bản tổng hợp dự kiến các điều kiện thực hiện và kết
quả bán hàng của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định.
Kế hoạch bán hàng có trình tự và phương pháp lập như sau:
Lập kế hoạch từ trên xuống.
Lập kế hoạch phân tán, từ dưới lên thông qua đăng ký tự nguyện từ cá nhân,
tổ đội, xí nghiệp lên hoặc kết hợp cả 2 phương thức trên.
Tuỳ theo ảnh hưởng của các lực lượng trong doanh nghiệp như người quản lý,
các nhân viên, các cổ đông, tuỳ thuộc nguồn lực hiện có, khả năng huy động vốn và
nền văn hoá mà doanh nghiệp đang theo đuổi mà kế hoạch bán hàng được hình thành
khác nhau.
1.2.3.4. Tổ chức lực lượng bán hàng.
1.2.3.4.1. Khái niệm lực lượng bán.
Lực lượng bán hàng(LLBH) là toàn bộ nhân viên tham gia quảng cáo, vận
chuyển, phân phối và bán hàng cho doanh nghiệp. LLBH là cầu nối cơ bản của doanh
nghiệp với khách hàng, quyết định việc thực hiện mục tiêu và kế hoạch bán hàng.
1.2.3.4.2. Xác định quy mô và cơ cấu của lực lượng bán hàng.
Xác định quy mô LLBH ảnh hưởng đến kết quả và chi phí bán hàng của doanh
nghiệp. Bởi vậy tính nhu cầu của LLBH cần căn cứ vào các yếu tố.
Mục tiêu và chiến lược bán hàng của doanh nghiệp.
Tình hình nhu cầu về hàng hoá trên thị trường hiện tại và tương lai.
Tổ chức LLBH của các đối thủ cạnh tranh để tham khảo.
Các định mức về khối lượng công việc cho một nhân viên đại diện bán hàng
như: tần xuất gặp gỡ khách hàng cần thiết trong kỳ, tổng khối lượng công việc, số
lượng khách hàng, thời gian mỗi lần gặp gỡ một khách hàng.
Trên cơ sở xác định quy mô nhân lực bán hàng của toàn bộ doanh nghiệp, cho
từng khu vực, từng địa bàn.
Cơ cấu tổ chức của LLBH.
Có thể có 4 phương án tổ chức LLBH của doanh nghiệp: theo sản phẩm, theo
vùng địa lý, theo khách hàng và theo ma trận.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
1.2.3.5. Quản trị hoạt động của lực lượng bán hàng.
Quản trị hoạt động bán hàng nhằm thức hiện kế hoạch, mục tiêu bán hàng đề
ra.
Quản trị hoạt động của LLBH bao gồm các nội dung.
Đào tạo lực lượng bán hàng.
Chỉ đạo lực lượng bán hàng.
Động viên lực lượng bán hàng.
1.2.3.6. Đánh giá kết quả và điều chỉnh hoạt động bán hàng.
Mục đích và đối tượng đánh giá hoạt động bán hàng là để nắam được diễn
biến và kết quả bán hàng từ đó đưa ra biện pháp điều chỉnh.
Đối tượng đánh giá là toàn bộ các hoat động bán hàng của doanh nghiệp, các
bộ phận và cá nhân trong bán hàng.
Nội dung đánh giá gồm:
Đánh giá kết quả bán hàng.
Đánh giá chi phí bán hàng.
Đánh giá kết quả và hiệu quả bán hàng.
Gồm có các phương pháp đánh giá sau: Phương pháp khảo sát, phương pháp
so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp phỏng vấn.
Điều chỉnh hoạt động bán hàng.
Mục đích của đánh giá để biết diễn biến rõ kết quả công việc đồng thời đưa ra
những điều chỉnh cần thiết.
Có thể điều chỉnh từ mục tiêu,kế hoạch, tổ chức lực lượng đến quản trị bán
hàng.
1.2.4.Quản trị vốn – phí – lao động.
1.2.4.1.Khái niệm về vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh là thể hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản doanh nghiệp dùng
trong kinh doanh.
1.2.4.1.1.Phân loại vốn kinh doanh.
Có thể đứng trên nhiều giác độ khác nhau để phân loại vốn kinh doanh.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
A - Đứng trên giác độ pháp luật vốn ở doanh nghiệp được quy định thành:
- Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để
thành lập doanh nghiệp. Tuỳ theo từng ngành, nghề, từng loại hình sở hữu doanh
nghiệp và từng thời kỳ, Nhà nước có quy định mức vốn pháp định hoặc doanh nghiệp
phải đăng ký mức vốn cần phải có khi thành lập doanh nghiệp.
- Vốn điều lệ: Là số vốn do tất cả các thành viên góp và được ghi vào điều lệ
công ty. Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các
chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền việt nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,
bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do các thành viên góp để
tạo thành vốn của công ty.
- Vốn có quyền biểu quyết: Là phần vốn góp, theo đó, người sở hữu có quyền
biểu quyết về những vấn đề được hội đồng thành viên hoặc đại hội đồng cổ đông
biểu quyết …
B - Đứng trên giác độ hình thành vốn, vốn ở doanh nghiệp gồm:
- Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là số
vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc số vốn đóng góp của công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư nhân,
hoặc vốn nhà nước giao của doanh nghiệp nhà nước …
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, phần vốn đóng góp
của tất cả các thành viên phải đóng đủ ngay khi thành lập doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty cổ phần có cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông.
- Vốn bổ sung: Là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận do nhà nước bổ
sung bằng phân phối hoặc sáp nhập, cơ cấu lại doanh nghiệp, do sự đóng góp của các
thành viên, do bán trái phiếu …
- Vốn liên doanh: Là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết liên doanh với
nhau để hoạt động kinh doanh.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
- Vốn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài số vốn
tự có và coi như tự có ( vốn chủ sở hữu ) doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản
vốn đi vay khá lớn của các ngan hàng. Ngoài ra còn có các khoản vốn chiếm dụng lẫn
nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng, cũng như các tổ chức tín
dụng khác.
C - Đứng trên giác độ chu chuyển vốn kinh doanh người ta chia vốn kinh
doanh của doanh nghiệp thành 2 loại:
- Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu động.
- Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định của doanh nghiệp
dùng trong kinh doanh.
Ngoài 3 cách phân loại trên người ta còn phân loại vốn kinh doanh theo thời
gian sử dụng vốn và theo quyền sở hữu đối với vốn kinh doanh.
1.2.4.1.2. Đặc điểm của vốn kinh doanh.
-Vốn kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất có tính chất chu chuyển chậm hơn
so với doanh nghiệp thương mại.
- Cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất gồm có các bộ phận hợp
thành sau:
+ Vốn cố định chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số vốn kinh doanh, vốn cố định dùng
chủ yếu để sản xuất ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
+ Vốn lưu động chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn kinh doanh của doanh
nghiệp.
đặc điểm này do tính chất hoạt động của doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là sản
xuất ra sản phẩm và thông qua doanh nghiệp thương mại mang sản phẩm của mình
đến với người tiêu dùng. Do vậy vốn cố định chiếm tỷ trọng nhỏ hơn tính chất chu
chuyển chậm hơn vốn cố định.
- Ở doanh nghiệp sản xuất vốn chủ sở hữu so với tổng số vốn kinh doanh
chiếm tỷ lệ lớn nghĩa là vốn tự có lớn. Hay nói cách khác các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh chủ yếu bằng vốn tự có của mình. Do vậy doanh nghiệp ít phải trả lãi vay
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét