thể hiện trong việc giữ gìn ổn định chính trị xã hội. Sự vận động của các quy
luật trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là quy luật cạnh tranh nhiều trường
hợp một số doanh nghiệp vào rơi vào tình trạng bất ổn về tài chính, thậm trí phá
sản dẫn đến một loạt người lao động bị mất công ăn việc làm, không đảm bảo
được cuộc sống hàng ngày và tạo ra nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh trong xã hội.
Cùng với sự phát triển kinh tế, tiến bộ của xã hội việc quản lý thu BHXH
được coi như là nhu cầu tất yếu của con người nó có thể thấy được xem như là
một trong những quyền cơ bản nhất của con người, được Đại hội đồng liên hợp
quốc thừa nhận và ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10 tháng 12 năm 1948 "
Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội đều có quyền hưởng
BHXH. quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người" (trích từ: Một số vấn đề
cơ bản về bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hà Nội tháng 4/2001);
2. Chức năng của BHXH.
BHXH có một số chức năng chủ yếu như sau :
+ Chức năng hạn chế bớt một phần khó khăn về kinh tế của người lao
động. Với chức năng này BHXH cho phép tất cả các hoạt động kinh tế xã hội
hoặc các đối tượng đã tham gia trong quá trình kinh tế xã hội trước đây hoặc tất
cả các công dân hình thành các quyền lợi đảm bảo để duy trì một chuẩn mực
sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy
ra.
+ Chức năng hình thành một hệ thống an sinh, an toàn xã hội. Với chức
năng này rất cần thiết cho người lao động, Người sử dụng lao động mà còn đảm
bảo sự ổn định chính trị, an toàn xã hội cho quốc gia, đảm bảo chắc chắn đối với
mọi thành viên trong xã hội gặp cảnh nghèo đói đều được cung cấp một khoản
thu nhập bằng tiền cũng như các dịch vụ chăm sóc về ytế và dịch vụ xã hội đầy
ý nghĩa.
+ Hai chức năng trên này hỗ trợ cho nhau. Đảm bảo ổn định kinh tế tài
chính cho người lao động, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả
5
5
năng, năng lực chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm
bảo an toàn cho quốc gia về kinh tế chính trị và an ninh quốc phòng. Chính vì
thế mà hiện nay đã có 182 nước có luật về BHXH. Có thể nói BHXH là một
trong những hoạt động mà tất cả các quốc gia đều quan tâm không phân biệt thể
chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Bảo hiểm xã hội đã đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã
hội, ổn định và phát triển kinh tế, được thể hiện thông qua các tác động chủ yếu
cụ thể sau:
-Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm thu nhập
hoặc bị mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động bị
mất việc làm. Đây là sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi người sẽ mất khả
năng lao động khi họ hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của BHXH.
Đây là chức năng cơ bản của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm vụ và cơ
chế hoạt động của hệ thống BHXH.
-Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham
gia đóng góp quỹ BHXH. Tham gia BHXH có người sử dụng lao động, người
lao động và nhà nước hỗ trợ đóng góp hình thành xây dựng lên quỹ BHXH .
Quỹ BHXH này được sử dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham
gia BHXH không may gặp tai nạn, rủi ro. Thực tế chỉ ra rằng số tiền trợ cấp
được hưởng thường nhỏ hơn rất nhiều so với số số tiền mình tham gia, do áp
dụng theo quy luật số đông bù ít, quỹ BHXH đã thực hiện phân phối lại thu
nhập theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Sự phân phối này thể hiện phân phối
thu nhập giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp,
giữa những người đang làm việc khoẻ mạnh với những người tuổi cao sức yếu,
già cả, ốm đau đang nghỉ việc. chức năng này của BHXH đã góp phần tạo nên
sự công bằng trong xã hội mang tính nhân văn sâu sắc.
- Góp phần thúc đẩy, kích thích tinh thần lao động, khuyến khích người
lao động hăng hái sản suất nâng cao chất lợng, năng xuất lao động tạo ra nhiều
của cải cho xã hội. Quỹ BHXH thực hiện chức năng này là do họ không may
6
6
gặp phải các tai nạn rủi ro, phần thu nhập của họ bị giảm sút hoặc không còn
nhưng sự suy giảm này đã được bù đắp một phần, hay toàn bộ từ quỹ BHXH. Vì
vậy mà đời sống sinh hoạt hàng ngày của người lao động và gia đình họ không
còn bị sáo trộn. Hay nói một cách khác là họ luôn luôn được bảo đảm ổn định
cuộc sống và có chỗ dựa về mặt vât chất, tinh thần. Chính vì vậy họ luôn yên
tâm để sản xuất nâng cao chất lượng, năng xuất lao động và đạt hiệu quả kinh tế
cao.
- Gắn bó lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động giữa
người sử dụng lao động với xã hội. Thông qua BHXH những mâu thuẫn giữa
những người lao động và người sử dụng lao động. Như mâu thuẫn về tiền lương,
tiền thưởng, thời gian lao động … sẽ được hoà giải và giải quyết kịp thời. Đặc
biệt nhờ có BHXH mà cả hai bên này đều thấy được quyền lợi của mình được
quan tâm bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó chặt chẽ lợi ích với
nhau. Đối với Nhà nước và xã hội thì chi hỗ trợ cho BHXH là khoản chi rất nhỏ
nhưng lại đem lại hiệu quả đạt được rất cao đảm bảo ổn định đời sống của
người lao động và gia đình họ, góp phần ổn định sản xuất và phát triển kinh tế
xã hội.
3. Tính chất của bảo hiểm xã hội.
BHXH ra đời gắn liền với đời sống của người lao động do vậy BHXH có
một số tính chất cơ bản sau:
- BHXH mang tính tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế xã hội.
- BHXH mang tính ngẫu nhiên phát sinh không đồng đều theo thời gian
và không gian. Những rủi ro không may đem lại trong BHXH đã hình thành nên
tính ngẫu nhiên của nó. Bởi vì các rủi ro này được áp dụng BHXH đều không
thể lường trước được sự việc xảy ra, các rủi ro này thường xảy ra một cách bất
ngờ. Do vậy mà không phải tất cả những người lao động của một tổ chức hay
tất cả các tổ chức đều phải chịu chung một rủi ro hay nhiều rủi ro cùng một lúc,
cùng một thời điểm.
7
7
- BHXH vừa mang tính xã hội, vừa mang tính kinh tế và có cả tính chất
dịch vụ. Tính chất kinh tế của BHXH được biểu hiện thông qua cơ chế hình
thành và sử dụng quỹ BHXH, Quỹ BHXH khi được hình thành, bảo toàn và tăng
trưởng quỹ thì nhất thiết phải có sự tham gia đóng góp tài chính của tất cả các
bên liên quan. Mức tham gia đóng góp của các bên được xác định rất cụ thể dựa
trên nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bảo hiểm xã hội tr ên cơ sở lấy số đông bù
cho số ít vì thực chất mức tham gia đóng góp của từng nguời lao động là không
đáng kể so với mức họ được thụ hưởng quyền lợi. Xét về góc độ kinh tế thì
người sử dụng lao động, được lợi rất nhiều khi quan hệ BHXH, khi tham gia
BHXH người sử dụng lao động sẽ không phải chi trả các khoản chi phí cho
người lao động bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động. Xét về phía
Nhà nước thì việc tạo lập, hoạt động của quỹ BHXH đã góp phần giảm nhẹ gánh
nặng cho Ngân sách nhà nước (NSNN). Đồng thời nó còn góp phần đầu tư phát
triển cho nền kinh tế. Do vậy cơ chế tạo lập và sử dụng, hoạt động của quỹ
BHXH đã đem lại rất nhiều quyền lợi, lợi ích cho nguời lao động, người sử dụng
lao động và Nhà nước.
BHXH là một bộ phận quan trọng chủ yếu trong hệ thống đảm bảo an
toàn xã hội, vì tính chất xã hội của BHXH được thể hiện rất rõ nét về tính chất
lâu dài mọi nguời lao động trong xã hội đều có quyền tham gia đóng góp vào
quỹ BHXH. Ngược lại BHXH phải có trách nhiệm Bảo hiểm đảm bảo quyền lợi
cho mọi người lao động và gia đình họ kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao
động. Tính chất xã hội của BHXH luôn gắn chặt chẽ với tính dịch vụ của nó, khi
nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển mạnh thì tính chất dịch vụ, tính chất xã
hội hoá của hệ thống BHXH ngày càng được nâng cao.
3.1, Đặc điểm của quỹ BHXH:
+ Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập chung giữ vị trí trong khâu tài chính
nằm giao thoa giữa ngân sách Nhà nước với các Tổ chức tài chính doanh nghiệp,
tài chính Nhà nước, tài chính dân cư.
8
8
+ Việc phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính
chất không hoàn trả. Tính chất không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối
với những người lao động đã tham gia BHXH trong suốt quá trình lao động
nhưng không bị ốm đau, sinh con, tai nạn lao động.
+ Sự ra đời tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh của quỹ BHXH gắn
liền với chức năng vốn có của Nhà nước là vì nó đảm bảo quyền lợi cho người
lao động chứ không vì mục đích lợi nhuận, kiếm lời. Đồng thời quỹ BHXH cũng
phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử trong
từng thời kỳ của mỗi một quốc gia. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển lớn
mạnh thì càng có nhiều các chế độ BHXH được thực hiện hơn và các chế độ
cũng sẽ được áp dụng rộng rãi hơn, thoả mãn nhu cầu về BHXH của người lao
động ngày càng được nâng cao.
Mặt khác khi nền kinh tế phát triển mạnh thì mức thu nhập của người lao
động càng cao, họ sẽ tham gia vào nhiều chế độ BHXH.
+ Ngoài ra quỹ BHXH mang tính chất tiêu dùng được thể hiện thông qua
các mục tiêu, mục đích của nó là chi trả đầy đủ các chế độ BHXH. Ngoài ra quỹ
BHXH lại mang tính chất dự trữ và thông thường khi người lao động tham gia
đóng góp vào quỹ BHXH thì họ không được quỹ BHXH này chi trả ngay khi
gặp tai nạn rủi ro mà phải có thời gian dự bị đủ thủ tục mới thanh toán.
+ Hoạt động của quỹ BHXH đã đặt ra yêu cầu tất yếu sẽ hình thành chế
độ tiết kiệm bắt buộc của xã hội và của người lao động để dành khi ốm đau, tai
nạn, hưu trí, Đây cũng là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân người lao
động và cộng đồng xã hội.
3.2, Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn cơ bản sau:
- Sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động.
- Sự đóng góp của người lao động tham gia BHYT bắt buộc và tự nguyện.
- Sự đóng góp Nhà nước đóng để đảm bảo thực hiện đầy đủ các chế độ
BHXH đối với người lao động.
9
9
- Nhà nước hỗ trợ về BHYT đối với người nghèo và các đối tượng chính
sách khác.
- Tiền sinh lời từ đầu tư do thực hiện các biện pháp bảo toàn, tăng trưởng
quỹ BHXH.
- Các nguồn thu hợp pháp khác
Phần lớn đối với các nước trên thế giới hiện nay thì quỹ BHXH đều được
tạo lập hình thành từ các nguồn trên. Tuy nhiên do từng điều kiện hoàn cảnh
lịch sử của mỗi quốc gia mà tỉ lệ tham gia đóng góp giữa các bên, mức độ tham
gia đóng góp của từng bên, mức độ can thiệp của Nhà nước, hay hình thức tham
gia đóng góp sẽ khác nhau.
Phương thức đóng góp vào quỹ BHXH của người sử dụng lao động và
người lao động hiện nay còn có hai quan điểm đó là:
+Việc xác định mức đóng góp phải căn cứ vào mức lương của từng cá
nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.
+ Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối
chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định nên mức đóng góp.
Việc chọn lựa quan điểm nào là tuỳ thuộc ở mỗi quốc gia nhưng phải bảo
đảm rằng mức tham gia đóng góp của mỗi bên phải đủ để cân đối việc thu, chi
của quỹ BHXH. Trong thực tế việc xác định mức tham gia đóng góp của các bên
( thực chất là xác định mức phí BHXH) được tính toán một cách khoa học cho
việc xác định mức phí. BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu và người ta thường
dùng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Phí BHXH được xác
định theo công thức:
P = f
1
+ f
2
+ f
3
Trong đó: f
1
: là phí thuần BHXH
f
2
: là phí quản lý
f
3
: là phí dự trữ
Phí thuần của BHXH là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của phí
BHXH, phí thuần được xác định để bảo đảm chi trả đầy đủ cho tất cả các chế độ
10
10
BHXH. Chính vì vậy việc xác định mức phí BHXH là rất khó, phức tạp nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Cơ cấu lao động theo các độ tuổi, kết cấu
giới tính trong lực lượng lao động, đặc điểm cấu tạo sinh học của con người
trong một nước, tuổi thọ bình quân của người dân, điều kiện làm việc chung của
người lao động…
Ngoài sự tham gia đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động
và Nhà nước. Quỹ BHXH còn được hình thành từ các nguồn khác như: tiền sử
phạt đối với các đơn vị vi phạm theo điều lệ BHXH, các khoản hỗ trợ, viện trợ
của các tổ chức trong và ngoài nước, các khoản lãi từ hoạt động đầu tư tài chính
từ phần quỹ BHXH nhàn rỗi…
3.3, Mục đích sử dụng quỹ BHXH .
Như ta đã biết phí BHXH bao gồm 3 bộ phận đó là: phí thuần, phí dự trữ,
phí quản lý, như vậy rõ ràng ta thấy quỹ BHXH được sử dụng cho 3 mục đích
đó là: chi trả cho các chế độ trợ cấp BHXH, chi cho việc quản lý hệ thống
BHXH, chi trích lập quỹ dự phòng, dự trữ giải quyết trong trường hợp gặp
những tổn thất lớn.
Trong cơ cấu chi từ quỹ BHXH thì chi trả cho các chế độ BHXH là rất
lớn, chiếm phần lớn nguồn quỹ BHXH vì đây là mục tiêu cơ bản nhất của
BHXH là: bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động, cho các hoạt động
của các đơn vị, tổ chức. Trong thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra
thường xuyên, liên tục với số lượng chi phí lớn trên phạm vi rộng lớn. Một trong
những khoản chi thường xuyên hàng tháng đó là chi lương hưu cho những
người lao động đã nghỉ công tác và chi trả trợ cấp BHXH hàng tháng cho thân
nhân của người lao động, người đang nghỉ hưu khi họ không may qua đời .
Nguồn chi thứ hai trong quỹ BHXH đó là chi phí dự trữ, thực chất đây là
quá trình tích luỹ lâu dài trong qúa trình sử dụng quỹ BHXH. định kỳ hàng
tháng, quý, năm cơ quan BHXH giữi hay trích lại một phần quỹ BHXH của
mình để thành lập nên quỹ dự phòng, dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng
11
11
trong những trường hợp khi nhu cầu chi trả quá lớn dẫn đến thâm hụt quỹ
BHXH như trong lúc đồng tiền mất giá và do hội đồng quản lý quyết định.
3.4, So sánh quỹ BHXH và ngân sách Nhà nước.
Nguồn Ngân sách nhà nước là tổng thể các mối quan hệ kinh tế xã hội
phát sinh, trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực, chính trị của mình để tập
trung lại một phần thu nhập của quốc gia, nhằm tạo lập lên một quỹ tiền tệ
chung của Nhà nước và dùng cho việc thực hiện các chức năng phát triển kinh tế
xã hội theo mục tiêu kế hoạch của Nhà nước.
Qua khái niệm trên về quỹ NSNN chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm
giống nhau và khác nhau giữa quỹ BHXH và nguồn NSNN, từ đó ta sẽ hiểu rõ
hơn, được đầy đủ hơn về quỹ BHXH cụ thể:
+ Sự giống nhau giữa quỹ BHXH và NSNN:
- Việc tạo lập và sử dụng của mỗi nguồn quỹ đều được biểu hiện dưới
hình thái tiền tệ, quá trình này đều được thực thi theo các văn bản quy định của
pháp luật và việc quản lý, sử dụng quỹ được tiến hành theo nguyên tắc cơ bản
cân bằng giữa thu, chi.
- NSNN và Quỹ BHXH là những khâu tài chính quan trọng, độc lập trong
hệ thống tài chính mỗi quốc gia, chức năng nhiệm vụ của NSNN mang tính rộng
hơn so với quỹ BHXH.
- Hoạt động của cả NSNN và quỹ BHXH đều không phải là nhằm mục
đích kinh doanh kiếm lời, mà hoạt động của chúng đều mang đậm nét tính chất
xã hội, tính cộng đồng dân tộc và trong nhiều trường hợp hoạt động của hai quỹ
này còn mang tính nhân văn sâu sắc.
+ Sự khác nhau giữa quỹ BHXH và NSNN:
- Về điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ NSNN, gắn liền với sự
ra đời tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các chức năng kinh
tế xã hội của Nhà nước. Còn sự ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, gắn
liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các quan
hệ thuê mướn nhân công. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thu nhập
12
12
của người lao động ngày càng cao thì phạm vi các chế độ BHXH ngày càng mở
rộng, mức độ thoả mãn về nhu cầu của người lao động khi tham gia BHXH
càng nhiều.
- Tính chất pháp lý của NSNN cao hơn so với quỹ BHXH, quá trình phân
phối của NSNN chủ yếu dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế của Nhà nước. Nhà
nước ban hành các văn bản luật để thực hiện việc thu, chi quỹ NSNN. Quá trình
này được sự kiểm tra, giám sát và quản lý chặt chẽ của Quốc hội. Còn đối với
quỹ BHXH thì hoạt động thu, chi quỹ BHXH cũng được thực hiện dựa vào các
văn bản quy định pháp luật, nhưng chủ yếu dựa vào mối quan hệ kinh tế, quan
hệ về lợi ích của những người lao động tham gia theo nguyên tắc có đóng góp
mới được hưởng và ngược lại người lao động không tham gia đóng góp thì sẽ
không được hưởng quyền lợi.
- Trong quan hệ phân phối thì NSNN chủ yếu là phân phối lại và không
mang tính chất hoàn trả. Chủ thể tham gia đóng góp và hưởng thụ từ NSNN
thông thường là tách rời nhau, còn quan hệ phân phối quỹ BHXH thì mang tính
chất hoàn trả. Việc hoàn trả lại cho người tham gia đóng góp là không thể biết
trước được chính xác về quy mô, về thời gian và không gian.
- Trong quan hệ phân phối của NSNN thường phản ánh đến quan hệ lợi
ích của xã hội, lợi ích quốc gia và việc chi phối các quan hệ lợi ích bộ phận, lợi
ích cá nhân nhằm bảo đảm cho sự ổn định của nền kinh tế xã hội.
Trong quan hệ phân phối của quỹ BHXH thì ngược lại, trước hết vì lợi ích
của từng cá nhân sau người lao động tham gia, sau đó là lợi ích của đơn vị và
cuối cùng mới đến lợi ích xã hội.
II- QUẢN LÝ THU QUỸ BHXH
1. Khái niệm :
+ Quỹ BHXH là : Một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ các bên
tham gia BHXH, ở nước ta hiện nay thì quỹ được hình thành từ:
- Người sử dụng lao động tham gia đóng bằng 15 % quỹ tiền lương.
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng.
13
13
Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ các
chế độ BHXH đối với người lao động ngoài ra quỹ BHXH còn hình thành từ
khoản lãi do đầu tư tăng trưởng và các khoản thu khác.
Quỹ BHXH được hình thành do ba bên đóng góp đó là (nguời lao động,
người sử dụng lao động và nhà nước) chính vì vậy quỹ BHXH là của ba bên
nhưng hiểu rộng ra đó là Nhà nước là của dân. Người lao động, người sử dụng
lao động cũng là người dân, do vậy thực chất quỹ BHXH là quỹ xã hội của Nhà
nước. Quỹ BHXH không phải của bất kỳ một tổ chức nào, một ngành nào, quỹ
cũng không thuộc Ngân sách nhà nước. Về nguyên tắc cơ bản quỹ của ai thì
người đó có quyền quản lý, chính vì thế mà quỹ BHXH là quỹ chung, được điều
hành thông qua một hội đồng quản lý, hội đồng đó có đầy đủ đại diện của ba
bên.
Mô hình quỹ BHXH do hội đồng quản lý có đại diện của các bên tham gia
là mô hình phổ biến được áp dụng ở tất cả các nước trên thế giới .
Ở nước ta hiện nay các thành viên trong hội đồng quản lý quỹ BHXH bao
gồm: Đại diện có thẩm quyền của Bộ Tài chính, Bộ lao động Thương binh và xã
hội, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam. Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam có
nhiệm vụ chỉ đạo và giám sát, chỉ đạo để thực hiện thu, chi quản lý quỹ của
BHXH Việt Nam.
Người sử dụng lao động và người lao động khi tham gia Bảo hiểm xã hội
bắt buộc đóng. Nguời sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm Y
tế bắt buộc, tự nguyện đóng và đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo
hiểm gồm Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước nhằm mục đích
chi trả đầy đủ các chế độ BHXH và bảo đảm các hoạt động của hệ thống BHXH.
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập tập chung nằm ngoài Ngân sách
nhà nước.
2- Nội dung quản lý thu BHXH.
2.1. theo quy trình quản lý thu:
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét